Chương 1: ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ CHO SỰ HÌNH THÀNH THẾ GIỚI QUAN CỦA NGUYỄN BỈNH KHIÊM 1. Khái niệm về thế giới quan Triết học là một trong những khoa học xuất hiện từ rất sớm, khi năng lực tư duy của con người đạt đến trình độ nhất định, tức là có thể sử dụng các khái niệm để diễn đạt nhận thức của mình về một vấn đề nào đó. Một trong những vấn đề mà triết học quan tâm nhiều nhất là vấn đề về vũ trụ xung quanh mình sinh ra từ đâu, nó tồn tại như thế nào và nó và biến chuyển ra sao? Bên cạnh đó, vấn đề thứ hai là vấn đề về chính bản thân con người. Vấn đề của con người được đặt ra với những nội dung về nguồn gốc của mình và sự tồn tại trong vũ trụ ấy và cùng với đó, con người cần thực hiện được nhiệm vụ nhận thức và cải tạo vũ trụ nhằm phục vụ nhu cầu và mục đích của mình.
Với những vấn đề cơ bản đó, triết học được phân chia theo nội dung về thế giới quan và nhân sinh quan. Theo Nguyễn Văn Vịnh, thế giới quan đóng vai trò là yếu tố nền tảng của nhân sinh quan. Quan niệm về vũ trụ là tiền đề để đi đến những quan niệm về nhân sinh (nhân sinh quan), đây là trình tự cấu trúc chặt chẽ của triết học. Còn nhân sinh quan cũng phải lấy vũ trụ quan làm cơ sở căn bản để triển khai các luận điểm.
Việc mở rộng các quan điểm nhân sinh quan ra môi trường cộng đồng, trong đó có con người là xã hội quan. Như vậy, toàn bộ thế giới sự vật, hiện tượng (trong đó bao gồm cả con người và xã hội) là một chỉnh thể thống nhất. Hệ thống các quan điểm về thế giới khách quan, đương nhiên phải gồm cả con người và xã hội. Đây cũng là cơ sở của việc trình bày về nội dung của thế giới quan triết học gồm: vũ trụ quan, xã hội quan và nhân sinh quan [58, tr.
11 z Theo từ điển triết học (M.ro-den-tan và P.I-U-Din, NXB Sự thật, 1976): “Thế giới quan là hệ thống quan điểm, khái niệm và quan niệm về toàn bộ thế giới xung quanh mình”… “Theo nghĩa tổng quát đó là toàn bộ những quan điểm về thế giới, về những hiện tượng trong tự nhiên và trong xã hội: các quan điểm triết học, xã hội, chính trị, luân lý, mỹ học, khoa học… Các quan điểm triết học hợp thành hạt nhân chủ yếu của thế giới quan. Vấn đề cơ bản của triết học cũng là vấn đề chủ yếu của thế giới quan, đó là vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại, giữa vật chất và ý thức. Tùy theo cách giải quyết vấn đề cơ bản đó mà người ta có thể chia thế giới quan triết học thành duy vật hay duy tâm. Thế giới quan trực tiếp phụ thuộc vào trình độ hiểu biết của con người đạt được trong từng giai đoạn lịch sử.
Như vậy thế giới quan mang tính lịch sử. Trong xã hội có phân chia giai cấp, thế giới quan tiêu biểu bao giờ cũng là thế giới quan của giai cấp thống trị xã hội đó” [60, tr. Theo quan niệm của các nhà Macxit: “Thế giới quan là toàn bộ những quan điểm, quan niệm của con người về thế giới, về bản thân con người, về cuộc sống và vị trí con người trong thế giới đó” [2, tr. Đây là một trong những tiêu chuẩn cơ bản để đánh giá giá trị tư tưởng của mỗi cá nhân cũng như của cộng đồng xã hội ở những giai đoạn lịch sử nhất định.
Thế giới quan triết học có một ý nghĩa không chỉ đơn thuần về mặt lý luận và nhận thức, mà nó còn có ý nghĩa lớn lao về mặt thực tiễn nữa, biểu hiện ở cách nhìn bao quát đối với vũ trụ, quyết định thái độ và là kim chỉ nam cho hành động của con người. Nhờ đã phát hiện ra các quy luật khách quan của tự nhiên và xã hội nên thế giới quan khoa học và tiến bộ đã hướng những hoạt động của con người đúng theo quy luật phát triển. Do đó, thế giới quan triết học đóng vai trò là phương pháp luận chung, định hướng cho con người trong hoạt động thực tiễn. Việc đưa ra những lý giải khác nhau về thế giới khách quan thể hiện thế giới quan phong phú của các ngành khoa học.
Tuy nhiên giữa triết học và các ngành khoa học có một mối liên hệ 12 z không thể tách rời trong đó bao gồm cả khoa học xã hội và nhân văn (khoa học về con người và xã hội loài người). Khoa học dựa trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của triết học để xây dựng lên những chân lý khoa học. Bênh cạnh đó, triết học đưa ra một cái nhìn tổng quan và khái quát dựa trên thành tựu của những ngành khoa học khác nhau. Mối liên hệ đó phản ánh tính đặc trưng của thế giới hiện thực khách quan là tính thống nhất giữa tự nhiên, xã hội và con người.
Theo Nguyễn Tài Thư và nhiều nhà nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam cho rằng Việt Nam trong lịch sử đã có tư tưởng triết học của riêng mình, đề cập đến các vấn đề: + Nội dung cơ bản của triết học với tư tưởng về thế giới: trời – người, tâm – vật, hữu – vô, lý – khí; phương pháp tư duy; tĩnh – động, thường – biến, thuận lẽ trời, lòng người, pháp cổ… + Tư tưởng chính trị - xã hội với quan niện về đường lối trị nước: thịnh - suy, quan hệ vua – dân, thành bại… +Quan niệm về con người với nội dung: đạo làm người, xây dựng con người, chuẩn mực đạo đức con người… Ba vấn đề tư tưởng này gắn bó với nhau, làm tiền đề tư tưởng cho nhau và hợp thành một hệ thống các quan điểm của truyền thống tư tưởng triết học Việt Nam. Những tư tưởng này giữ vai trò là thế giới quan và phương pháp luận chung gắn liền với sự hình thành và phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam. Bên cạnh đó, chủ nghĩa yêu nước là đặc trưng cơ bản nhất của lịch sử tư tưởng Việt Nam, nếu chủ nghĩa yêu nước xét trên bình diện lý luận, nếu xét phân loại thì chủ nghĩa yêu nước thuộc loại tư tưởng chính trị - xã hội, nếu xét vai trò thế giới quan của nó thì đó là quan điểm về triết học xã hội. Đó là hệ thống những quan điểm lý luận về đánh giặc giữ nước và phát triển đất nước [46, tr.
13 z Chúng tôi tiếp cận thế giới quan theo nội dung gồm vũ trụ quan, quan niệm về con người, xã hội và các mối quan hệ của con người. Vũ trụ quan là những tư tưởng, quan niệm của con người về sự hình thành, phát triển và tồn tại của vũ trụ. Có nhiều cách lý giải khác nhau của các nhà triết học, các nhà tư tưởng ở phương Đông và phương Tây về vũ trụ. Mặc dù có sự khác nhau về nguồn gốc, bản chất của vũ trụ nhưng các triết gia phương Tây và Phương Đông đều thừa nhận sự vận động, biến đổi không ngừng của vũ trụ từ trạng thái này sang trạng thái khác, luôn tác động qua lại lẫn nhau.
Hêraclit đã có kết luận về vật chất vận động: mọi vật đều trôi đi, chảy đi, không có cái gì giữ nguyên tại chỗ, tất cả mọi vật đều vận động, không có cái gì tồn tại mà lại cố định. Ông khẳng định: không thể tắm hai lần trong cùng một dòng sông, bởi vì nước không ngừng chảy trên sông. Đối với các nhà triết học Trung Hoa cho rằng có một trong những nguyên lý quan trọng của vũ trụ là “biến dịch”, điều này được thể hiện trong tư tưởng về “Đạo” của Đạo gia, hay trong tác phẩm Kinh Dịch. Tư tưởng triết học của Phật giáo nguyên thủy cũng đã khẳng định tính tự thân, sinh thành, biến đổi của vạn vật, tuân theo tính tất định và phổ biến của luật nhân - quả, vô thường, vô ngã.
Vũ trụ có mối quan hệ mật thiết với con người, bởi con người sống trong chính môi trường vũ trụ ấy và môi trường xã hội mà con người tạo nên. Từ việc nhận thức rõ mối quan hệ này mà con người có thể định hướng, quyết định cho hoạt động thực tiễn, phục vụ nhu cầu của mình. Đây là cơ sở cho sự thống nhất giữa vũ trụ quan và quan niệm về con người, cũng như các mối quan hệ xung quanh con người. Vấn đề về con người cũng là một trong những nội dung được nhiều ngành khoa học quan tâm, trong đó có triết học.
Trong triết học luôn có những câu hỏi: con người được sinh ra từ đâu? Con người tồn tại và phát 14 z triển như thế nào? Các mối quan hệ xung quanh con người diễn ra như thế nào, nó thể hiện bản chất gì của con người?. Mục đích của việc đi tìm câu trả lời cho những câu hỏi trên là để thấy được vai trò, vị trí của con người trong thế giới hiện thực. Chính vì vậy, các nhà triết học của phương Đông và phương Tây đều đánh giá cao vai trò của con người, con người là một bộ phận của giới tự nhiên, có mối quan hệ tác động qua lại với tự nhiên. Điều kiện lịch sử xã hội, kinh tế, văn hóa Việt Nam thế kỷ XV - XVI 1.
Một số biến động chính trị - xã hội Ngay từ những năm cuối thế kỷ XV, mô hình nhà nước cũng như các chính sách của triều Lê sơ đã bộc lộ những hạn chế và mâu thuẫn. Đến đời vua Lê Hiến Tông (1497 – 1505) còn kéo dài được 8 năm cái vẻ thịnh trị của thời Hồng Đức. Nhưng đến đời vua Lê Uy Mục, nhà Lê bắt đầu suy vong và cũng từ đấy xã hội phong kiến mất dần vai trò tích cực đối với xã hội, thậm chí trở thành chướng ngại vật cản trở sự phát triển của xã hội. Đất nước bắt đầu lâm vào sự trì trệ kéo dài qua nhiều thập kỷ.
Chế độ này thường xuyên làm nảy sinh và tái sinh những mâu thuẫn xã hội khi thì tạm thời lắng xuống, khi thì bùng lên gay gắt. Đó là mâu thuẫn giữa tập đoàn phong kiến áp bức, bóc lột với nhân dân ngày một đói khổ; mâu thuẫn trong nội bộ giới cầm quyền luôn luôn xung đột và chém giết lẫn nhau gây ra những cuộc nội chiến, tạo ra cảnh tượng đất đai bị chia cắt, huynh đệ tương tàn.