Phần Mở đầu, phần Nội dung và phần Kết luận. Trong phần Nội dung gồm có ba chƣơng: Chƣơng 1: Cao Bằng - vùng đất biên cƣơng giàu truyền thống lịch sử, truyền thống văn chƣơng Chƣơng 2: Văn học Cao Bằng - diện mạo và đặc điểm Chƣơng 3: Một số tác giả tiêu biểu 3. Nhà thơ Dao - Bàn Tài Đoàn người đặt nền móng cho văn học Cao Bằng thời kỳ hiện đại 3. Y Phương - nhà thơ Tày xuất sắc của Cao Bằng 3.
Cao Duy Sơn - người đưa văn xuôi dân tộc thiểu số lên một tầm cao mới 3. Hoàng Triều Ân - Nhà văn hóa, nhà “Tày học” của quê hương Cao Bằng Phần cuối cùng là Tài liệu tham khảo. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1 CAO BẰNG - VÙNG ĐẤT BIÊN CƢƠNG GIÀU TRUYỀN THỐNG LỊCH SỬ, TRUYỀN THỐNG VĂN CHƢƠNG 1. Cao Bằng - mảnh đất vùng cao biên giới hùng vĩ và đa dạng Là tỉnh miền núi vùng cao biên giới, xa các trung tâm kinh tế lớn của vùng Đông Bắc và cả nƣớc, nhƣng Cao Bằng lại có ba cửa khẩu là: Tà Lùng, Hùng Quốc và Sóc Hà.
Cao Bằng có diện tích tự nhiên 6.690,72 km², chiếm 2,12% diện tích cả nƣớc, là địa bàn miền núi cao hùng vĩ. Phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), có đƣờng biên giới giáp với Trung Quốc dài 311 km - là tỉnh vùng cao biên giới có đƣờng biên giới dài nhất trong các 7 tỉnh có đƣờng biên giới giáp ranh với Trung Quốc; phía Tây giáp tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang; phía Nam giáp tỉnh Bắc Kạn; phía Đông Nam giáp tỉnh Lạng Sơn. Đây là lợi thế quan trọng, tạo điều kiện cho tỉnh giao lƣu kinh tế, văn hóa với bên ngoài, nhất là Trung Quốc, nhƣng cũng chứa đựng nhiều nguy cơ về chiến tranh cũng nhƣ các tranh chấp quốc tế, bởi vậy nên mảnh đất và con ngƣời nơi đây luôn phải gồng mình lên để gìn giữ yên bình vùng biên cƣơng của Tổ quốc trong hàng nghìn năm lịch sử. Nơi đây là một vùng đất vô cùng phong phú và giầu có về danh lam thắng cảnh và tài nguyên thiên nhiên.
Là vùng núi cao có địa hình phân cắt mạnh tạo nên những mảng địa hình vô cùng phong phú với vùng núi đá vôi ở phía bắc và đông bắc chiếm 32%, tiểu vùng núi đất ở phía tây và tây nam chiếm 18%, tiểu vùng núi đất thuộc thƣợng nguồn sông Hiến chiếm 38%; tiểu vùng bồn địa thị xã Cao Bằng và huyện Hoà An dọc sông Bằng chiếm 12% diện tích tự nhiên của tỉnh. Cao Bằng là vùng đất có nhiều núi cao, sông hồ, thác ghềnh và những cánh rừng nguyên sinh tạo nên cảnh quan hùng vĩ và thơ mộng. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Non nước Cao Bằng nhƣ một bức tranh thủy mặc khổng lồ mà thiên nhiên đã ƣu ái, bạn tặng cho mảnh đất này với bao núi, sông, hồ, thác nhƣ: thác Bản Giốc, động Ngƣờm Ngao, hồ Thang Hen, hồ Khuổi Lái, hang Pác Bó… những hang động còn nguyên vẻ hoang sơ và đƣợc đánh giá là những hang động, thác nƣớc đẹp vào bậc nhất ở Đông Nam Á; đây còn là xứ sở của những cọn nƣớc, của các suối nguồn trong vắt và những cô gái áo chàm duyên dáng khéo tay, hay lam hay làm và hát Sli, hát Lƣợn rất ngọt ngào làm say đắm lòng ngƣời. Nơi đây còn là mảnh đất có nhiều di tích lịch sử cách mạng đặc biệt.
Bác Hồ đã chọn mảnh đất này làm nơi đầu tiên Ngƣời đặt chân khi trở về Tổ Quốc sau 30 năm bôn ba hải ngoại, tìm đƣờng cứu nƣớc. Tại nơi đây, Bác Hồ đã mở nhiều lớp huấn luyện về chính trị, quân sự, dịch và viết nhiều tài liệu cách mạng quan trọng. Bác đã chủ trì hội nghị Trung ƣơng Đảng lần thứ 8 tại lán Khuổi Nậm - Pác Bó từ ngày 10-5 đến 19-5-194; quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh, lập các căn cứ địa cách mạng. Pác Bó - nơi Bác ở có phong cảnh hùng vĩ, hữu tình.
Trong hang Cốc Pó có một nhũ đá đƣợc Bác Hồ đặt tên là Các Mác, bên ngoài hang có dòng suối đẹp, Ngƣời đặt tên là suối Lê Nin. Ngày nay Pác Bó đã trở thành di tích lịch sử thiêng liêng, là niềm tự hào của mỗi ngƣời Việt Nam và là địa chỉ du lịch lịch sử, thiên nhiên đặc sắc của tỉnh Cao Bằng. Bên cạnh đó là khu di tích lịch sử rừng Trần Hƣng Đạo thuộc xã Tam Kim, huyện Nguyên Bình là một khu rừng đến nay vẫn giữ đƣợc vẻ nguyên sơ, với những vách đá trải dài, và uốn lƣợn dƣới chân là dòng suối Tam Kim trong vắt. Giữa núi rừng lộng gió, nơi đây ngày 22-12-1944 đã chứng kiến sự ra đời của Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân - tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, gồm 34 chiến sĩ là con em của đồng bào các DTTS, do đồng chí Võ Nguyên Giáp lãnh đạo, chỉ huy.
13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Cao Bằng còn có nhiều di tích lịch sử và thắng cảnh đẹp khác nhƣ: Đền Xuân Lĩnh, thành Nà Lữ ,Chùa Viên Minh, đồn Pai Khắt, mộ Kim Đồng, đền Kỳ Sâm, Pháo Đài , Phja Đén. Tƣợng đài Bác Hồ ở giữa trung tâm thị xã Cao Bằng là một công trình điêu khắc mỹ thuật mang tính nghệ thuật cao, vừa là niềm tự hào vừa là sự biết ơn sâu sắc của nhân dân các DTTS Cao Bằng đối với Bác Hồ kính yêu. Gần đây nhất Cao Bằng đã xây dựng Chùa Phật Tích Trúc Lâm Bản Giốc tọa lạc trên diện tích 2ha ngay tại Thác Bản Giốc. Ngôi chùa đầu tiên trên mảnh đất biên cƣơng phía Bắc với kiến trúc chùa Việt truyền thống có ý nghĩ hết sức quan trọng đối với đời sống tâm linh của đồng bào các DTTS vùng biên viễn của Tổ quốc.
Non nước Cao Bằng đã ghi đậm những dấu ấn lịch sử của thời kỳ cách mạng vô cùng gian khổ nhƣng cũng lắm vẻ vang, anh hùng. Mỗi địa danh, mỗi khu rừng, mỗi thôn xóm dƣờng nhƣ đều gắn liền với những chặng đƣờng phát triển lịch sử của cách mạng Việt Nam và cuộc đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp cứu nƣớc vĩ đại. Về đặc điểm khí hậu - Cao Bằng mang tính nhiệt đới gió mùa vùng lục địa núi cao và có đặc trƣng riêng so với các tỉnh miền núi khác thuộc vùng Đông Bắc. Bên cạnh đó còn có tiểu vùng khí hậu á nhiệt đới.
Đặc điểm này đã tạo cho Cao Bằng những lợi thế để hình thành các vùng sản xuất cây phong phú đa dạng, trong đó có những cây đặc sản nhƣ: hạt dẻ, hồng không hạt, đậu tƣơng, thuốc lá, chè đắng… mà nhiều nơi khác không có điều kiện trồng trọt và phát triển. Cao Bằng có nhiều DTTS sinh sống với các truyền thống văn hoá, lễ hội đa dạng, độc đáo. Những điều kiện này sẽ là nền tảng cho văn hóa, văn học nghệ thuật Cao Bằng ngày càng phát triển một cách bền vững trên cơ sở truyền thống và hiện đại. Các dân tộc thiểu số ở Cao Bằng bao gồm: Tày, Nùng, Dao, Sán Chỉ, Kinh, Mông và Hoa… (trong đó dân tộc Tày chiếm 41,0% dân số; 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nùng chiếm 31,1 %; H'Mông chiếm 10,1 %, Dao chiếm 10,1 %, Việt chiếm 5,8 %, Sán Chay (1,4 %).
Là một tỉnh miền núi phía Bắc, có nhiều dân tộc sinh sống và có nền văn hóa truyền thống rất phong phú, các DTTS ở nơi đây cùng chung sống đoàn kết với nhau trong suốt hàng ngàn năm lịch sử. Mặc dù đặc điểm văn hóa của mỗi tộc ngƣời có sự khác nhau, nhƣng với tinh thần yêu nƣớc, tinh thần cố kết cộng đồng, và cùng sinh sống trên mảnh đất hào hùng, giàu tinh thần thƣợng võ, các dân tộc anh em nơi đây đã cùng nhau trải qua bao biến cố, những thăng trầm của lịch sử, để xây dựng nên một Cao Bằng tƣơi đẹp và giầu bản sắc. Mỗi DTTS ở nơi đây đều có những di sản văn hóa truyền thống độc đáo của riêng mình. Chiếm số lƣợng đông đảo nhất là ngƣời dân tộc Tày và ngƣời dân tộc Nùng với những lễ hội truyền thống độc đáo nhƣ: Lễ hội mời Mẹ Trăng, lễ hội Lồng Tồng, hội Nàng Hai, Thanh Minh, tết Cơm mới… Họ còn hết sức tự hào với những điệu hát, điệu múa dân ca của dân tộc mình nhƣ: Hát then, hát lƣợn…; múa Sluông, múa chầu, múa quạt, múa khăn… cùng những loại nhạc cụ: Đàn tính, đàn nhị, bộ xóc đồng lục lạc… Ngƣời Dao và H’Mông là hai tộc ngƣời có những bộ trang phục truyền thống vào loại đặc sắc và rực rỡ nhất, cầu kỳ nhất trong các DTTS ở Việt Nam.
Họ có những lễ hội và những nghi lễ nổi tiếng nhƣ: Lễ cúng Bàn Vƣơng, lễ cấp sắc, lễ hội Pụt Tồng, lễ hội nhảy lửa (của ngƣời Dao); lễ Nào Sồng, lễ Gầu Tào (của ngƣời H’Mông). Vào những dịp lễ hội này họ thƣờng thể hiện những điệu múa truyền thống của dân tộc mình nhƣ: múa Chuông, múa trống… (ngƣời Dao) với các loại nhạc cụ: kèn pí lè, trống, chuông…; múa ô, múa khèn (Ngƣời H’Mông), với các loại nhạc cụ nhƣ: khèn, sáo, kèn lá, kèn môi… Mỗi một dân tộc đều có những lễ hội, những phong tục tập quán, những nghi lễ truyền thống riêng và đã góp phần tạo nên bản sắc văn hóa đa sắc màu, phong phú và độc đáo của địa phƣơng cao Bằng. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Cao Bằng còn là vùng đất của một nền ẩm thực phong phú. Những món ăn của vùng đất này mang hƣơng vị đậm đà của núi rừng, của tình ngƣời nồng ấm.
Ngƣời Cao Bằng đã khéo léo kết hợp nguồn gia vị thực phẩm phong phú sẵn có của núi rừng để tạo ra nhiều món ngon đặc sắc nhƣ: Lạp xƣờng ƣớp gừng núi, thịt rừng treo gác bếp, lẩu cá chua, xôi trám đen, rêu đá Tầu Quầy xào, cốm hạt dẻ, bánh khảo, khẩu sli,…Thƣởng thức những món ăn ấy cùng rƣợu rƣợu Lẩu Pảng huyện Hà Quảng (thứ rƣợu đƣợc chƣng cất từ bột cây báng lâu năm trên núi đá, men làm từ quả trầm hƣơng, ủ bột xuống đất gần một tháng, đợi tiết trời vào thu có nhiều sƣơng thì đem phơi rồi mới đem trƣng cất) hay rƣợu mía Phục Hòa thì thật khó quên đối với bất kỳ ai đến với vùng đất này.