MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài Võ Nhai là một tỉnh miền núi phía đông bắc nước ta, một vùng đất còn gặp nhiều khó khăn, kinh tế chậm phát triển, vẫn còn nhiều hộ nghèo nhất là vùng sâu, vùng xa nhất là nơi vùng xa trung tâm thành phố. Đời sống người dân phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp, điều kiện sản xuất gặp nhiều khó khăn, đất nghèo dinh dưỡng, các điều kiện về cơ sở hạ tầng, hệ thống thủy lợi chưa đồng bộ, khí hậu thời tiết có nhiều bất lợi do đó năng suất cây trồng thấp, dẫn đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp không cao, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn. Huyện Võ Nhai là một huyện vùng 3 có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn. Là nơi cư trú của các đân tộc thiểu số, trình độ sản xuất và nhận thức của người dân còn hạn chế.
Người dân trồng lúa ngoài việc đáp ứng nhu cầu ăn trong gia đình thì phần lớn là để chăn nuôi, còn thừa thì đem bán. Trình độ nắm bắt áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật (KHKT) còn hạn chế, chính vì tập quán tự cung tự cấp truyền thống này đã làm cho nền kinh tế chậm phát triển. Nhiều hộ còn nằm trong diện hộ nghèo, do đó để giải quyết được những vấn đề này đòi hỏi phải có một đội ngũ cán bộ khuyến nông viên để chỉ đạo, hướng dẫn để giúp người dân thoát nghèo, cải thiện đời sống. Cán bộ KN (KN) là một bộ phận của hệ thống khuyến nông, bao gồm người làm công tác khuyến nông ở các xã, thôn bản và các cộng tác viên khuyến nông.
Đây là đội ngũ cán bộ khuyến nông có vai trò, nhiệm vụ chính là chuyển giao tiến bộ KHKT trực tiếp cho bà con nông dân, người sản xuất (thực hiện các hoạt động từ nghiên cứu địa bàn, đánh giá nhu cầu, cho đến tổ chức các hoạt động, cung cấp dịch vụ, hỗ trợ kỹ thuật giúp bà con nông dân sản xuất hiệu quả). 2 Khuyến nông thứ nhất là nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của người sản xuất để tăng thu nhập, thoát đói nghèo, làm giàu thông qua các hoạt động đào tạo nông dân về kiến thức, kỹ năng và các hoạt động cung ứng dịch vụ để hỗ trợ nông dân sản xuất kinh doanh đạt hiểu quả cao, thích ứng các điều kiện sinh thái, khí hậu và thị trường. Thứ hai, là góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng phát triển sản xuất hàng hóa, nâng cao năng suất, chất lương, an toàn vệ sinh thực phẩm đáp ứng nhu cầu,. Thứ ba là huy động nguồn lực từ các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài tham gia khuyến nông.
Để thực hiện những mục tiêu trên cần sự lãnh đạo của đảng cà chính phủ, các cơ quan và tổ chức khuyến nông; sự nỗ lực của nông dân và đóng góp to lớn của cả đội ngũ cán bộ khuyến nông,. Trong đó, điều kiện quan trọng và không thể thiếu được bất cứ hoạt động khuyến nông nào chính là nhân lực. Do đó, tôi lựa chọn tên đề tài tài: “Tìm hiểu vai trò,chức năng và nhiệm vụ của một cán bộ khuyến nông tại Trạm khuyến nông huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên” làm đề tài nghiên cứu khóa luận của mình. Mục tiêu nghiên cứu * Mục tiêu chung: - Tìm hiểu vai trò, chức năng và nhiệm vụ của một cán bộ khuyến nông cấp huyện.
- Từ đó đề xuất các giải pháp để cán bộ KN hoạt động có hiệu quả. * Mục tiêu cụ thể: - Khái quát chung về trạm khuyến nông và cán bộ KN. - Tìm hiểu vai trò, chức năng và nhiệm vụ của cán bộ KN. - Nghiên cứu các phương pháp khuyến nông.
- Chuyển giao tiến bộ KHKT cho nông dân. - Đánh giá những thuận lợi và khó khăn của cán bộ KN cấp huyện. 3 - Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của cán bộ KN cấp huyện. Nội dung và phương pháp thực hiện 1.
Nội dung thực tập - Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Võ Nhai. - Tìm hiểu vai trò, chức năng và nhiệm vụ của cán bộ KN huyện Võ Nhai. - Đánh giá thuận lợi khó khăn trong công việc của cán bộ KN. - Đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của cán bộ KN.
Phương pháp nghiên cứu 1. Phương pháp thu thập số liệu a. Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp - Thu thập thông tin từ các công trình khoa học, các báo cáo tổng kết, các bài viết có liên quan đến kinh tế hộ. - Thu thập số liệu tại chính quyền địa phương, thống kê của UBND huyện, phòng tài nguyên môi trường, phòng nông nghiệp, thu thập từ các báo cáo, tạp chí, tổng hợp từ internet b.
Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp - Phương pháp quan sát: là phương pháp qua quan sát trực tiếp hay gián tiếp bằng các dụng cụ để nắm được tổng quan về địa hình, địa vật trên địa bàn nghiên cứu. - Phương pháp phân tích SWOT: là công cụ giúp cộng đồng xác định được những thuận lợi và khó khăn, cơ hội và thách thức tác động đến tiến trình phát triển của đối tượng nghiên cứu. Sử dụng phương pháp SWOT để phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức. Điểm mạnh thường xuất hiện ở các thời điểm hiện tại và cần phải được vận dụng và khai thác.
Điểm yếu vừa có tính hiển nhiên, vừa 4 có thể là điều mà chúng ta chưa biết. Vì vậy, điểm mạnh và điểm yếu có quan hệ chặt chẽ với nhau, biết điểm mạnh để phát huy - đó là một lợi thế, biết điểm yếu để khắc phục - đó cũng sẽ trở thành điểm mạn. Làm được điều này thì điểm yếu đã được khắc phục, vượt qua thành điểm mạnh. Cơ hội và thách thức là những yếu tố khách quan.
Cơ hội khác với thời cơ, thời cơ là cơ hội chỉ diễn ra tại một thời điểm hay khoảng thời gian rất ngắn, thời cơ nếu chúng ta không biết tận dụng thì nó sẽ mất đi và chúng ta không thể tạo hay lặp lại nó. Thách thức có quan hệ mật thiết với cơ hội, nếu dựa theo cách lý giải triết học, trong cơ hội sẽ xuất hiện nguy cơ. Nguy cơ là những yếu tố bên ngoài tiêu cực hay bất lợi đối với đối tượng và thường xảy ra ngoài dự kiến. Phương pháp xử lí, phân tích và tổng hợp số liệu a.
Phương pháp xử lí và tổng hợp số liệu Số liệu điều tra sau khi thu thập đủ, sẽ tiến hành làm sạch biểu tức là kiểm tra, rà soát và chuẩn hoá lại thông tin, loại bỏ thông tin không chính xác, sai lệch trong điều tra và chuẩn hóa lại các thông tin. Những thông tin, số liệu thu thập được tổng hợp, phân tổ, đồng thời được xử lí thông qua chương trình Excle. Việc xử lí thông tin là cơ sở cho việc phân tích. Phương pháp phân tích số liệu - Phương pháp thống kê mô tả: Các thông tin, số liệu được mô tả, liệt kê rõ ràng theo các phương pháp thống kê.
- Phương pháp thống kê so sánh: Các số liệu phân tích được so sánh qua các năm, các chỉ tiêu để thấy được những thực trạng và biến động của vấn đề nghiên cứu. Thời gian và địa điểm thực tập * Thời gian thực tập từ * Địa điểm: Trạm khuyến nông huyện Võ Nhai, tỉnh TháiNguyên. 5 Phần 2 TỔNG QUAN 2. Về cơ sở lý luận 2.
Các khái niệm về khuyến nông và cán bộ khuyến nông. Năm 2000 Cục Khuyến Nông Việt Nam, tổng hợp từ nhiều khái niệm khuyến nông của các quốc gia, các tác giả và đã đúc kết thực tiễn hoạt động khuyến nông của nước ta đã đề xuất khái niệm khuyến nông như sau: Khuyến nông là cách đào tạo và rèn luyện tay nghề cho nông dân, đồng thời giúp cho họ hiểu được những chủ trương chính sách về nông nghiệp, những kiến thức về kĩ thuật, kinh nghiệm về quản lý kinh tế, những thông tin về thị trường, để họ có đủ khả năng tự giải quyết được các vấn đề của giả đình và cộng đồng đẩy mạnh sản xuất, cải thiện đời sống, nâng cao dân trí, góp phần xây dựng và phát triển nông thôn mới. [7] Khái niệm trên đã thể hiện được rõ bản chất công việc cũng như mục tiêu cuối cùng của KN là: - Hoạt động KN thực chất là làm công tác đào tạo nông dân (truyền thông – tập huấn nông dân) - Nông dân biết và tự giải quyết mọi hành động của họ. - Nhằm phát triển nông nghiệp, nông thôn - Nhằm nâng cao đời sống kinh tế - văn hóa – xã hội… cho người nông dân.
Cán bộ khuyến nông là lực lượng nòng cốt phát hiện, tham mưu, hướng dẫn nông dân chủ động phòng tránh và dập dịch có hiệu quả. Ngoài ra, thông qua lực lượng này, công tác (dân vận) vận động tuyên truyền chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước. Cán bộ KN cơ sở chịu sự quản lý và chỉ đạo trực tiếp của trạm khuyến nông các huyện, thành phố, đồng thời chịu sự quản lý của UBND xã, thị trấn. [7] 6 Mục tiêu chung của cán bộ khuyến nông thứ nhất là nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của người sản xuất để tăng thu nhập, thoát đói nghèo, làm giàu thông qua các hoạt dộng đào tại nông dân về kiến thức, kỹ năng và các hoạt động cung ứng dịch vụ để hỗ trợ nông dân sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao, thích ứng điều kiện sinh thái, khí hậu và thị trường.
Thứ hai, là góp phần góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng phát triển sản xuất hàng hóa, nâng cao năng xuất,chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Thúc tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, xây dựng nông thôn mới, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài tham gia khuyến nông, ổn định kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường. Thứ ba, là huy động nguồn lực từ các tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước tham gia khuyến nông.[3] Để thực hiện được những mục tiêu trên cần sự lãnh đạo của đảng, chính phủ các cơ quan và tổ chức khuyến nông, sự nỗ lực của hàng triệu nông dân và sự đóng góp to lớn của tất cả cán bộ khuyến nông trên cả nước.