phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương 5 tiết. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 BUDDHAGHOSA VÀ THANH TỊNH ĐẠO LUẬN 1. Khái quát về cuộc đời và trƣớc tác của Budhhaghosa 1. Bối cảnh xã hội thời Buddhaghosa Buddhaghosa sinh vào khoảng thế kỷ V SCN tại Ấn Độ khi xã hội Ấn Độ đang có những biến đổi to lớn.
Dưới triều đại vua Gupta (320-480) Ấn Độ trải qua một thời kỳ dài thái bình, thịnh trị, kinh tế phát triển cả về nông nghiệp, công nghiệp và thương mại, đặc biệt phát triển thương mại với nước ngoài [21]. Triều đại của vua Samudra Gupta (335-375) đánh dấu một bước ngoặc quan trọng trong lịch sử Ấn Độ. Dưới triều đại này lãnh thổ Ấn Độ được mở rộng thêm từ lưu vực sông Hằng đến Tây, Trung và Đông Ấn, đến tận Tích Lan (Sri Lanka) [39]. Triều đại Gupta cũng rất quan tâm đến đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân.
Chế độ phân biệt đẳng cấp không còn khắc nghiệt như thời kỳ trước, nhờ vậy người dân được sống một cuộc sống khá thoải mái và hưởng những tiêu chuẩn tốt đẹp của cuộc sống.[22] Trong lĩnh vực tôn giáo, các vị vua ở triều đại Gupta tuy đề cao đạo Bà La Môn song cũng tiếp thu thêm tinh thần khoan dung tôn giáo của Phật giáo, và họ đều có tinh thần tôn trọng tự do tín ngưỡng của các tín đồ tôn giáo khác. Điều kiện kinh tế - xã hội như vậy đã tạo thuận lợi cho nhiều tôn giáo phát triển như Kỳ Na giáo (Jainism), Mật tông giáo (kriyatatra). Trong bối cảnh chung ấy, Phật giáo cũng có những biến đổi sâu sắc. Đặc biệt cuộc kết tập kinh điển lần thứ tư đã được tổ chức trong thời kỳ này và đã đạt được một số thống nhất trong giáo lý gốc, tạo điều kiện cho tăng 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đoàn phát triển mạnh và rộng khắp, đồng thời có sự phân chia thành nhiều bộ phái trên cơ sở tranh luận cởi mở về ý nghĩa tư tưởng của giáo lý gốc.
Sau khi Đức Phật giác ngộ, giáo đoàn tỳ khưu (tăng già) đầu tiên được thành lập dưới sự truyền đạo của chính đức Phật. Trong suốt 45 năm giáo đoàn Phật giáo ở Ấn Độ đã phát triển tương đối hoàn chỉnh, giáo lý giải thoát được nhiều người biết đến và tu tập. Đây cũng là thời kỳ có nhiều biến động về chính trị, xã hội và có ảnh hưởng không nhỏ đến tăng đoàn Phật giáo, cả ở những nơi Phật giáo phát triển chưa vững mạnh. Nội bộ Phật giáo cũng bắt đầu có nhu cầu kết tập kinh điển để thống nhất lại toàn bộ tinh thần của giáo lý gốc.
Có nhiều nguyên nhân, song nguyên nhân trực tiếp là trong lớp tăng sĩ trẻ bắt đầu xuất hiện nhu cầu sửa đổi giới luật và lối sinh hoạt của tu sĩ để phù hợp với từng điều kiện địa phương, song các trưởng lão (tăng sĩ bề trên: thera) không đồng ý, nên đã dẫn tới những tranh luận và mâu thuẫn trong nội bộ tăng đoàn. Trước tình hình đó, sau khi Đức Phật nhập diệt bảy ngày một hội nghị được tổ chức tại Rajagaha dưới sự chủ trì của ngài Tôn giả Ca Diếp (Mahakasyapa) với năm trăm vị hòa thượng tham dự nhằm sưu tập và xác thực những lời Phật dạy. Đây là cuộc kết tập kinh điển lần thứ nhất trong lịch sử Phật giáo. Có thể thấy từ đây đã có mầm mống bất đồng về nhận thức giáo lý, song sự bất đồng chưa đủ sâu sắc để dẫn tới sự phân chia thành bộ phái, nhánh phái trong nội bộ Phật giáo.
Cuộc kết tập lần thứ hai vào khoảng một trăm năm sau khi đức Phật nhập diệt [35, tr83]. Đây là thời kỳ đã có sự tranh luận gay gắt về giáo lý và phân chia bộ phái trong nội bộ tăng đoàn Phật giáo, đồng thời là giai đoạn trung gian quan trọng, quá độ chuyển từ thời kỳ Phật giáo Nguyên thủy sang Phật giáo Đại thừa. Thời kỳ này Phật giáo Nguyên thủy có sự 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phát triển mạnh về số lượng tăng sĩ, và trình độ nhận thức của họ bắt đầu chín muồi, nẩy sinh nhu cầu phải tổng hợp, thống nhất và hệ thống hóa kinh điển cũng như các cách giải thích kinh điển gốc. Tuy nhiên, nguyên nhân chính của Đại hội kết tập lần thứ hai tại Vaisaly vẫn là tranh luận về luật chế của Tăng đoàn, đó là về "thập sự phi pháp" (mười việc phi pháp).
Kết quả là Đại hội quyết định giữ nguyên mười giới luật căn bản mà không sửa đổi, nên một số tu sĩ trẻ không hài lòng và bắt đầu nảy sinh khuynh hướng ly khai, dẫn đến sự phân chia đầu tiên trong tăng đoàn thành hai bộ phái: Trưởng Lão/Thượng Tọa Bộ (Sthaviravada) gồm các tu sĩ bề trên có khuynh hướng bảo thủ, và Đại Chúng Bộ (Mahasanghika) gồm các tu sĩ trẻ có khuynh hướng cải cách. Như vậy, Đại hội kết tập lần thứ hai cũng chỉ thảo luận những vấn đề liên quan với giới luật chứ chưa có sự tranh luận về giáo pháp. Tuy đã có sự phân chia bộ phái nhưng về giáo nghĩa và giáo đoàn vẫn chưa xảy ra hiện tượng phân lập nổi bật nào. Song đó là những tiền đề chuẩn bị cho Đại hội kết tập lần thứ ba.
Cuộc kết tập lần thứ ba được tổ chức vào thế kỷ III TCN, tức khoảng 200 trăm năm sau khi đức Phật nhập diệt, dưới sự bảo trợ của hoàng đế Asoka [35, tr89, 97]. Trong đại hội kỳ này, sự tranh luận diễn ra không chỉ về vấn đề giới luật mà cả về giáo pháp. Cuối đại hội, ngài Mộc liên Tu đế (Moggaliputta Tissa) - người chủ tọa của Đại hội - đã biên soạn cuốn Những điểm dị biệt (Kathavatthu) trên cơ sở lập trường bảo vệ giáo pháp gốc của phái Trưởng lão (Theravada) để bác bỏ luận thuyết của một số bộ phái lúc đó cho rằng giáo pháp không còn thích hợp, và nó đã được Đại hội đồng chấp thuận và bảo vệ. Luận Tạng (Abhidhamma), thường được gọi là A Tỳ Đàm hay Vi Diệu Pháp cũng được kết tập trong đại hội lần này.
Về nguyên nhân của Đại hội kết tập lần này, nhận định của Phật giáo Nam tông và Bắc tông không nhất trí với 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Nam tông cho rằng Đại hội được tổ chức nhằm giải quyết tranh tụng của tăng sĩ theo nhóm "tặc trú tỳ kheo"1. Còn Bắc tông lại cho rằng nguyên do là từ cuộc tranh luận về "Ngũ sự"2. Cuộc kết tập lần thứ tư tổ chức tại Tích Lan khoảng 600 năm sau khi đức Phật nhập diệt [35, tr138 ] nhằm thống nhất giáo nghĩa của mọi bộ phái trên tinh thần của Thượng Tọa Bộ (Gốc của Nam tông Phật giáo (Theravada).
Tại Đại hội này, lần đầu tiên Tam tạng kinh được viết thành văn bản Pali. Cũng trong thời kỳ này, một số bộ luận của các luận sư nổi tiếng đã ra đời và trở thành Cương yếu Phật học, đặc biệt là bộ TTĐL (Visuddhimagga) của Buddhaghosa (tiếng Việt là Phật Âm). Đại hội kết tập kinh điển lần thứ tư cũng chính là sự ghi nhận giai đoạn phát triển giáo đoàn Phật giáo từ Nguyên thủy đến phân hóa thành bộ phái chuẩn bị cho sự phân chia sâu sắc hơn thành hai nhánh Tiểu thừa và Đại thừa. Hai bộ phái, Thượng tọa bộ và Đại chúng bộ, là sự phân chia đầu tiên trong nội bộ tăng đoàn Phật giáo Nguyên thủy.
Từ đó, Đại chúng bộ phân thành tám chi phái, và Thượng Tọa bộ phân thành mười phái (khoảng ba trăm đến bốn trăm năm sau khi Phật nhập diệt), tổng số là hai mươi bộ phái như sau: Thượng tọa bộ gồm: 1. Thuyết nhất thiết hữu bộ ( Saivàstivàdàh) 3. Độc tử bộ (Vàtsìputriỳah) 1 Những người ngoại đạo giả làm tỳ kheo, trà trộn vào trong Tăng Đoàn để làm bại hoại giới luật của Phật Giáo, họ sửa đổi Tam Tạng kinh điển, không tuân thủ giới luật, và giáo lý của Đức Phật nên bị gọi là “tặc trú Tỳ Kheo.” 2 Năm điều về phẩm tính của vị La Hán: La hán cũng có bất tinh lậu xuất; La hán cũng có vô tri;La hán cũng còn do dự; La hán cũng còn nhờ người khác để nhập đạo; La hán phải nhờ tiếng khổ mới thấy được đạo. Xem Kimura Taiken, Tiểu thừa Phật giáo tư tưởng luận, sđd, t1, tr103.
12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Pháp thượng bộ (Dharmottariỳah) 5. Hiền trụ bộ ( Dhadryànìyaha) 6. Chính lượng bộ ( Sammitiyàh) 7.
Mật lâm sơn bộ ( Sandagirikàh) 8. Pháp tạng bộ ( Dharmaguptakàh) 10.Ẩm quang bộ (Kàsyapiỳah) 11.Lượng bộ (Sautràntikàh) Đại chúng bộ gồm: 1. Đại chúng bộ (Mahàsamghikàh) 2. Nhất thuyết hữu bộ (Ekavyavahàrikàh) 3.
Thuyết xuất thế bộ (Lokottaravàdinàh) 4. Kê dân bộ ( Kaukkutikàh) 5. Thuyết giả bộ (Prajnàptivàdinàh) 7. Tây sơn trụ bộ (Aparasailàh) 9.
Bắc sơn trụ bộ (Uttarasailàh) [35, tr105] Cuối thế kỷ thứ I sau CN, Phật giáo tại Ấn Độ có sự phân chia thành Tiểu thừa (Hinayana) và Đại thừa (Mahayana). Phật giáo Đại thừa là sự phát triển kế tiếp một khuynh hướng của Phật giáo bộ phái theo hướng canh tân tôn giáo trên cơ sở kết hợp Phật giáo với văn hóa bản địa, văn hóa của tộc người Đạt La Duy trà ở miền Nam Ấn Độ và văn hóa của người Hi Lạp và Ba Tư ở bắc Ấn Độ [52]. Điểm đặc biệt khác với Phật giáo Tiểu thừa là Phật giáo Đại thừa chủ trương canh tân nhằm mục đích giải thoát cho nhiều người. Sự phân phái là biểu hiện những đòi hỏi mới của thực tiễn mà Phật giáo Nguyên thủy không còn đáp ứng được.
Tuy nhiên có những ý 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com kiến khác nhau về thực tiễn tôn giáo mới đó. Theo Phật giáo Nam tông, đó là do sự bất đồng ý kiến về giới luật giữa phái truyền thống bảo thủ và phái tự do cấp tiến; quan điểm khác cho rằng do bất đồng ý kiến về tư cách của La Hán, tuy nhiên quan điểm về sự bất đồng giới luật được nhiều người chấp nhận hơn cả [62, tr25-27]. Xét một cách bao quát, sự phân Đại thừa, Tiểu thừa trong Phật giáo còn xuất phát từ lịch sử quá trình luận giải khế kinh rất lâu dài, phức tạp và đa dạng, về đại thể có thể chia làm ba giai đoạn: - Giai đoạn đầu chủ yếu là chỉnh lý các quan niệm về tu dưỡng trong khế kinh và giải thích một số vấn đề giới luật cơ bản. Lúc này các bộ luận chưa độc lập tách khỏi khế kinh.
- Giai đoạn hai, thực tiễn Phật giáo ngày càng phát triển, đòi hỏi những cách giải thích khế kinh phù hợp với tình hình mới.