CHƯƠNG 1 NGUỒN GỐC VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TRIẾT HỌC TRUNG QUÁN VAI TRÒ VÀ Ý NGHĨA CỦA HỆ THỐNG TRIẾT HỌC TRUNG QUÁN Đạo Phật đã có ảnh hưởng rất sâu sắc đến nền triết học và tôn giáo Ấn Độ trên hơn 1000 năm. Đó là sự thách thức đối với tính tự mãn và là một yêu cầu cho sự từ bỏ chủ nghĩa giáo điều. Việc ấy thừa nhận phương pháp phân tích phê phán [1] ngay từ khởi đầu. [2] Đạo Phật chứa đầy những quan điểm trọng yếu trong sự phát triển triết học Ấn Độ.
Hệ thống triết học Bà-la-môn và Kỳ-na giáo phát sinh dưới tác nhân kích thích trực tiếp của đạo Phật. Các bộ phái và chi nhánh phát triển rất nhiều. Các học thuyết được hệ thống hóa và các đặc điểm của học thuyết được hình thành dưới áp lực nầy. Sự quan tâm lớn trở nên dành cho Luận lý học (logic) và Nhận thức luận (epistemology).[3] Thuật ngữ chính xác được phát huy, và số lượng đồ sộ văn học luận giải (śāstra- 1 T.
MURTI – THÍCH NHUẬN CHÂU DỊCH VIỆT literature) ra đời. Triết học Ấn Độ trở nên quyết định và phong phú hơn; nó đạt được chiều sâu và có ý nghĩa sinh động hơn. Có một khúc quanh rất rõ nét từ chính trong Phật giáo. Đạo Phật có một sức sống rất trọng yếu và đa dạng.
Các bộ phái và chi nhánh thậm chí được đánh giá là khó hiểu từ chính tiêu chuẩn của Phật giáo. Khuynh hướng tự phân ly thành các bộ phái và hệ phái đã xuất hiện rất sớm trong lịch sử Phật giáo. Những Đại hội kết tập kinh điển được mở ra nối tiếp nhau để phân định tính chính thống của kinh điển và để dập tắt những quan điểm dị biệt đang có dấu hiệu sinh sôi nẩy nở. Luận sự (Kathāvatthu) có lẽ là tác phẩm ghi chép sớm nhất bằng tiếng Pāli về các học thuyết đa dạng của các bộ phái.
Các sử gia Phật giáo như Bổ-đốn (Buston), Tāranātha có lời nhận định về ý nghĩa Tam thời giáo:[4] Trước tiên, giáo lý nguyên thuỷ hoàn toàn bác bỏ tư tưởng ‘không–nihilistic’ (có nghĩa là nhận thức tất cả sự vật đều thật sự tồn tại trong chính nó). Do quan niệm như thế, có sự quy trách sai lầm cho Phật giáo có chủ trương duy thực luận (realistic) là điều trở nên dễ thấy. Đối với quan niệm nầy, Đức Phật chủ trương giáo lý Trung đạo (Intermediate teaching), qua đó, quan điểm phủ định chiếm ưu thế. Nhưng giới thiệu (những cấp độ khác nhau về Thực tại) nầy (kinh điển của Phật giáo hậu kỳ), lại thuyết minh phương diện Biến kế sở chấp (s: parikalpita), quy cho các hiện tượng đều không thật hiện hữu (non-existing), các pháp tồn tại trên phương diện Y tha khởi tánh (s: paratantra- svabhāva; e: causally dependent) là hiện hữu trên phương diện Tục đế (s: saṃvṛti; e: empirical reality) [5] và hai hình thái của Viên thành thật tánh (s: pariniṣpanna; e: Ultimate Aspect) như là biểu tượng cho Thực tại tuyệt đối (Absolute Reality).
Do đó đã hóa giải hai quan niệm cực đoan, gồm liễu 2 NGHIÊN CỨU TRIẾT HỌC TRUNG QUÁN TẬP I nghĩa (nītārtha; e: direct meaning), không phải là đối tượng để bàn cãi. Và mặt khác, thời kỳ giáo pháp thứ hai là thuộc về giáo lý phương tiện. mang tính quy ước (conventional meaning), còn gọi là bất liễu nghĩa (neyārtha), và có thể đưa ra như đối tượng tranh luận. Đây là nhận định của các Luận sư Duy thức tông.
Tuy nhiên, các luận sư Trung quán phát biểu rằng: “Thế tôn đã khởi đầu với lời dạy, các pháp vốn vô tự tính (devoid of a real essence of their own), các pháp vốn không sanh (anutpanna), không diệt (aniruddha), tự bản chất đã ở trong niết-bàn (nirvāṇa), từ khởi thủy vốn thường tịch tĩnh (ādi-śānta). Khi đã chuyển sang thời kỳ giáo pháp thứ hai, qua đó đã đưa các hành giả thể nhập Đại thừa. Giáo lý vi diệu như danh xưng, thuyết minh nguyên lý các pháp Vô tự tánh và Tương đối tính (Relativity). Theo các luận sư Trung quán,[6] giáo lý thời kỳ đầu (Sơ kỳ) và thời kỳ thứ ba đều là giáo lý phương tiện (quy ước) (ābhiprāyika; conventional), chỉ có thời kỳ thứ hai (Trung đạo) mới thực sự là giáo lý liễu nghĩa.[7] Tách khỏi ý nghĩa ẩn dụ và sắc thái phe phái, điều nầy nghĩa là có ba bước ngoặt trong lịch sử Phật giáo.Sơ kỳ: Thực tại luận (realistic) và Đa nguyên luận (pluralistic) hình thành nên các bộ phái Tiểu thừa Phật giáo (Hīnayāna), gồm Thượng toạ bộ (Theravāda) và Tỳ-bà-sa bộ (Vaibhāṣika) tức Thuyết Nhất thiết hữu bộ (Sarvāstivāda).
Đây có thể gọi là hệ thống A-tỳ-đạt-ma (Ābhidharmika). Kinh lượng bộ (Sautrāntika) là biến cải một phần của Thực tại luận mang tính giáo điều nầy. Trung kỳ: Hệ thống Trung quán luận của Long Thụ (Nāgārjuna) và Thánh Thiên (Ārya Deva), chủ trương Tánh không luận (śūnyatā-vāda). MURTI – THÍCH NHUẬN CHÂU DỊCH VIỆT 3.
Hậu kỳ: Quan niệm luận (Duy tâm luận)–Hệ thống Du-già hành tông (Yogācāra) của Vô Trước(Asaṅga) và Thế Thân (Vasubandhu), sau nầy là Duy thức luận (Vijñānavāda) của Trần-na (Dignāga) và Pháp Xứng (Dharmakīrti) Các sử gia Phật giáo, Bổ-đốn [9] (1290-1364) và Tāranātha [10] (1574-1608), đều không quá gần và cũng chẳng quá xa với cuộc vận động, và do vậy họ có thể nắm bắt vấn đề một cách tổng quát. Trung quán chính là bước ngoặt của Phật giáo. Đó chính là hệ thống trọng yếu và then chốt. Giống như vai trò của Kant [11] trong triết học châu Âu, hệ thống triết học Trung quán đã dẫn đến cuộc cách mạng thực sự trong tư tưởng đạo Phật.
‘Điều chưa bao giờ được nhận biết một cách trọn vẹn. Stcherbatsky phát biểu về hệ thống triết học nầy: Thực là một cuộc cách mạng triệt để đã thay đổi giáo hội Phật giáo khi tinh thần mới, bằng cách mà qua một thời gian bị che khuất trong đó, đi đến sự nở rộ toàn diện vào thế kỷ thứ I stl. Khi chúng ta nhìn thấy một giáo lý mang tính triết học vô thần, phủ nhận linh hồn (tự ngã), đề xuất con đường Giải thoát tối hậu dành cho con người, cốt yếu ở điểm không tái sanh trong luân hồi, và sự kính ngưỡng trong ký ức thuần túy người sáng lập mang tính cách con người, khi chúng ta hiểu rằng điều ấy được thay thế bởi một giáo hội thâm nghiêm tối cao với Thượng đế cao vời, vây quanh bởi vô số các thần và chư Thánh chào đón, một tôn giáo dành cho cầu nguyện, ngợi ca nghi thức và tăng lữ, với một lý tưởng Giải thoát rốt ráo cho toàn thể hữu tình, sự Giải thoát chứ không phải ở trong sự tịch diệt (annihilation), mà là ở trong đời sống tương tục đến vô hạn, chúng ta hoàn toàn chính đáng trong xác quyết rằng lịch sử tôn giáo chắc chắn là không có nhân chứng cho sự tách rời giữa cái mới và cũ bên trong sự nhợt nhạt của điều 4 NGHIÊN CỨU TRIẾT HỌC TRUNG QUÁN TẬP I mà, tuy thế, vẫn tiếp tục tuyên bố là hậu duệ chung của cùng một người sáng lập tôn giáo. Sự thay đổi là từ tính đa dạng của các thực thể cơ bản riêng biệt (dharmāḥ: các pháp/pháp tướng) sang bản chất đồng nhất hàm tàng trong các pháp ấy (dharmatā: pháp tánh) Về nhận thức luận (epistemological), cuộc cách mạng từ chủ nghĩa kinh nghiệm (empiricism) và chủ nghĩa giáo điều (s: dṛṣṭi-vāda; dogmatism) sang biện chứng pháp phê phán (dialectical criticism), tức Tánh không luận (śūnyatā) hay Trung đạo (madhyamā pratipad).
Về Đạo đức học, cuộc cách mạng từ lý tưởng giải thoát tự kỷ cá nhân sang giải thoát cho toàn thể chúng sinh với tinh thần vô duyên đại từ và đồng thể đại bi. Không chỉ giải thoát khỏi khổ đau và luân hồi sinh tử (kleśāvaraṇa-nivṛṭtih), mà còn giúp cho chúng sinh chứng ngộ Phật tánh viên mãn, bằng cách giải trừ sở tri chướng (jñeyāvaraṇa), chính là mục đích hiện thời. Sự thay đổi là từ lý tưởng A-la-hán sang lý tưởng Bồ-tát.[15] Bi (karunā; Universal love) và Trí (prajñā) hay tánh không (śūnyatā) [16] là đồng nhất. Lý thuyết và Thực tiễn là hợp nhất.
Về mặt tôn giáo, cuộc cách mạng là chuyển đổi từ Thực chứng luận (Vô thần; positivism) sang Phiếm thần tuyệt đối luận (absolutistic pantheism). Tôn giáo là ý thức về sự hiện hữu của Đấng siêu thế gian trong sinh mệnh nội tại của vạn vật, ý thức mà Otto [17] hân hoan gọi là ‘ẩn mật lớn lao.’ [18] Phật giáo Nguyên thuỷ (Theravāda) trong ý nghĩa nầy không phải là một tôn giáo. Đó là một Tăng đoàn chung sống và tu tập trên nền tảng giới luật (vinaya; discipline) và kính ngưỡng bậc Đạo sư trong hình ảnh con người. Họ bắt buộc phải giữ quy tắc đạo đức rất khắc khe, chủ yếu là truy cầu lý tưởng 5 T.
MURTI – THÍCH NHUẬN CHÂU DỊCH VIỆT giải thoát ra khỏi cuộc đời nầy. Không có yếu tố sùng bái tôn giáo, không có ý vị tôn giáo, không có tín ngưỡng thần kỳ siêu việt. Đức Phật không được họ xem như một bậc có năng lực thần thông (cosmic function) bất khả tư nghì; Ngài được họ xem như một con người ưu việt và chẳng có gì khác. Sự hiện hữu của ngài sau niết-bàn là vấn đề còn nhiều bàn cãi; đây là một trong những điều khó diễn tả được.
Sự ra đời hệ thốngTrung quán chính là nẩy sinh ý nghĩa đạo Phật như là một tôn giáo. Đối với Phật giáo Đại thừa (Mahāyāna), Đức Phật không phải là một nhân vật lịch sử. Ngài là bản thể của mọi Hiện hữu (Pháp thân);[19] Ngài có sắc thái rực rỡ thiêng liêng (Báo thân)[20] và tùy ý nguyện mà có vô số thân để cứu độ chúng sinh và để truyền dạy giáo pháp (Hóa thân).[21] Bản thể đồng nhất của tất cả chúng sinh trở thành một bộ phận không thể thiếu trong đời sống tinh thần. Việc lễ bái và cúng dường chư Phật, chư Bồ-tát được giới thiệu, có lẽ nhờ vào ảnh hưởng từ phương Nam.[22] Điều nầy dẫn đến sự hình thành cho sự phát triển sau cùng của Phật giáo–hệ Mật tông.
Mật tông là sự kết hợp độc đáo của nghi thức trì tụng chân ngôn (mantra) và sự kính ngưỡng trên một nền tảng tuyệt đối. Hệ nầy vừa mang tính tôn giáo vừa triết học. Sự phát triển nầy cũng xảy ra trong đạo Bà-la-môn, chắc chắn là ảnh hưởng do sự phát triển tương quan với Phật giáo. Trong Kinh Đạo can [23] có nói: ‘Người nào thấy được Duyên khởi (pratītyasamutpāda), người đó thấy Phật, người nào thấy Phật, người đó thấy Pháp.
Duyên khởi luận, tuy vậy, đã có những giải thích không giống nhau vào từng thời điểm khác nhau. Hệ thống triết học A-tỳ-đạt-ma của Phật giáo thời kỳ Nguyên thuỷ giải thích Trung đạo là phủ nhận có một bản ngã (Ātman; substance) thường hằng bất biến, và ngay đó thiết lập thực tại của các thành tố riêng biệt.