Chương 1 – TỔNG QUAN 1. Tổng quan hệ thống 1. Khái niệm Tổng quan hệ thống ( systematic reviews) là thực hiện quá trình tìm kiếm, tập hợp, đánh giá, phân tích và đối chiếu tất cả bằng chứng thực tế thích hợp với các tiêu chuẩn được định trước để trả lời một câu hỏi nghiên cứu cụ thể. Tổng quan hệ thống sử dụng các phương pháp đầy đủ, phù hợp, hạn chế sai sót đến mức tối thiểu và có hệ thống chi tiết để tập hợp và phân tích được đầy đủ nhất những bằng chứng đáng tin cậy cho các quyết định[27].
Các bước tiến hành tổng quan hệ thống được thực hiện một cách rõ ràng, chuẩn tắc nhằm giảm thiểu sự thiên vị, sai lệch do nhận định chủ quan chủ quan của người làm nghiên cứu, do đó cung cấp kết quả tin cậy hơn so với tổng quan truyền thống[64]. Theo tổ chức Cochrane, các đặc điểm chính của phương pháp tổng quan hệ thống bao gồm[27]: - Mục tiêu rõ ràng với các tiêu chuẩn lựa chọn nghiên cứu đưa vào xem xét được xây dựng từ đầu; - Phương pháp tường minh và có tính tin cậy, lặp lại được; - Chiến lược tìm kiếm hệ thống nhằm xác định tất cả các nghiên cứu hợp lệ; - Đánh giá chất lượng của kết quả các nghiên cứu; - Trính bày một cách hệ thống, tổng hợp kết quả và đặc điểm của các nghiên cứu. Tổng quan hệ thống là một bằng chứng khoa học có độ tin cậy cao, sử dụng phương pháp rõ ràng để tối thiểu hóa sai lệch. Thông tin tổng hợp từ tổng quan hệ thống giúp cán bộ y tế, các nhà nghiên cứu và các nhà quản lý đưa ra kết luận và quyết định hợp lý, đúng đắn hơn.
Nhu cầu tổng quan tài liệu theo cách có hệ thống trở nên cần thiết hơn bao giờ hết, nhất là trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay. Tổng quan hệ thống, nhất là tổng quan hệ thống dựa trên thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng, hiện được coi là đỉnh của tháp bằng chứng trong nghiên cứu khoa học. Quy trình thực hiện Tổng quan hệ thống Các bước tiến hành cho một quy trình tổng quan hệ thống như sau[50, 51]: Bước 1: Thiết lập câu hỏi nghiên cứu Vấn đề cần giải quyết trong tổng quan hệ thống thường được cụ thể hóa bằng câu hỏi rõ ràng trước khi bắt đầu tổng quan. Câu hỏi nghiên cứu có thể được diễn đạt dưới dạng mọt câu hỏi tự do hoặc được các nhà nghiên cứu cụ thể hóa dưới dạng cấu trúc PICOS ( quần thể nghiên cứu, yếu tố can thiệp, đối chứng, tiêu chí đầu ra và thiết kế nghiên cứu).
Tuy nhiên không phải vấn đề nghiên cứu nào cũng được định sẵn đầy đủ các yếu tố theo cấu trúc. Cấu hỏi nghiên cứu giúp xác định rõ ràng mục tiêu nghiên cứu. Bước 2: Tìm kiếm và lựa chọn các nghiên cứu liên quan Các nhà nghiên cứu tiến hành tìm kiếm nghiên cứu dựa trên nhiều nguồn, bao gồm cả nguồn thông tin điện tử và bản in, không giới hạn ngôn ngữ, với mục đích tìm được tất cả các bằng chứng có liên quan. Tiêu chuẩn lựa chọn xuất phát trực tiếp từ câu hỏi nghiên cứu và được cụ thể hóa, lý do lựa chọn và loại trừ được ghi chép lại.
Bước 3: Đánh giá chất lượng nghiên cứu Đánh giá chất lượng các nghiên cứu được thực hiện ở từng bước tổng quan và đóng vai trò rất quan trọng. Lựa chọn nghiên cứu, đánh giá mức độ đồng nhất của các nghiên cứu để quyết định phân tích tổng hợp các kết quả hay đánh giá độ mạnh của kết luận cuois cùng phụ thuộc rất lớn vào bước đánh giá này. Bước 4: Tóm tắt và tổng hợp kết quả Ở bước này, các nhà nghiên cứu tổng hợp dữ liệu từ các nghiên cứu, khảo sát sự khác biệt giữa các nghiên cứu và nếu có thể, tiến hành goppj các nghiên cứu lại trong phân tích gộp. Phân tích gộp là một phần không bắt buộc phải có trong tổng quan hệ thống.
Trong trường hợp có sự khác biệt quá lớn giữa các nghiên cứu, không thể gộp chung các nghiên cứu với nhau được. Bước 5: Phiên giải những phát hiện của nghiên cứu Đây là bước cuối cùng trong tổng quan hệ thống. Bước này giúp phiên giải ý nghĩa và đưa ra kết luận của tổng quan. Các nhà nghiên cứu cần xem xét tất cả các nguy cơ sai số liên quan, như sự thiên vị trong công bố kết quả.
4 Đánh giá mức độ bất đồng nhất giữa các nghiên cứu giúp quyết định thông tin tổng hợp có đáng tin cậy không. Nếu không, sử dụng bằng chứng được ghi nhận từ những nghiên cứu chất lượng cao để đưa ra kết luận. Bất kỳ khuyến cáo nào được đưa ra cũng nên tính điểm độ mạnh bằng chứng. Ưu nhược điểm của phương pháp tổng quan hệ thống: Ưu điểm: Phương pháp rõ ràng, hạn chế sự thiên vị, rút ra kết luận đáng tin cậy và chính xác, dễ dàng cung cấp thông tin cho các nhà cung cấp dịch vụ y tế và các nhà nghiên cứu.
Tổng quan hệ thống sử dụng can thiệp có hiệu quả kịp thời, nâng cao tính nhất quán của các kết quả và đưa ra câu hỏi nghiên cứu trong tương lai. Nhược điểm: Chất lượng báo cáo các tổng quan hệ thống khác nhau, làm hạn chế đánh giá của người đọc về điểm mạnh và điểm yếu của các tổng quan đó. Mặc dù tổng quan hệ thống và phân tích gộp được xem là bằng chứng tốt nhất để trả lời câu hỏi nghiên cứu nhưng vẫn có một sai sót như sự lựa chọn các nghiên cứu, sự không đồng nhất, mất thông tin về đầu ra quan trọng, mâu thuẫn với thực nghiệm và trùng lặp xuất bản. Tổng quan về bệnh COVID - 19 1.
Định nghĩa COVID-19 ( bệnh virus corona 2019) là một bệnh truyền nhiễm do virus SARS-CoV-2 gây ra. SARS-CoV-2 lây trực tiếp từ người sang người qua đường hô hấp (qua giọt bắn là chủ yếu) và qua tiếp xúc với các vật dụng bị ô nhiễm. SARS-CoV- 2 cũng có khả năng lây truyền qua khí dung ở trong những không gian kín, đông người và thông gió hạn chế hoặc nơi có nhiều thao tác tạo khí dung như trong các cơ sở điều trị [1, 3]. Phổ bệnh của COVID-19 đa dạng từ người nhiễm không có triệu chứng, có các triệu chứng nhẹ cho tới những biểu hiện bệnh lý nặng như viêm phổi nặng, hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển (ARDS) nhiễm khuẩn huyết suy chức năng đa cơ quan và tử vong.
Người cao tuổi, người có bệnh mạn 5 tính hay suy giảm miễn dịch, hoặc có đồng nhiễm hay bội nhiễm các căn khác như vi khuẩn, nấm sẽ có nguy cơ diễn biến nặng nhiều hơn[1]. Các biện pháp phòng bệnh chính là tiêm phòng vaccin, phát hiện sớm để cách ly ca bệnh và đảm bảo trang bị phòng hộ cá nhân cho người có nguy cơ phơi nhiễm. Virus SARS – CoV-2 Virus Corona rất phổ biến ở cả người và động vật. Virus có vỏ bọc (enveloped virus) gồm một sợi RNA dương bản (+).
Hầu hết các virus hoàn chỉnh có hình cầu với các protein gai (spike glycoprotein, còn gọi là S protein) gắn trên vỏ ngoài. Ngoài ra, virus còn có các protein cấu trúc khác bao gồm protein Envelope (E), Matrix (M) và Nucleocapsid (N). Protein S chịu trách nhiệm liên kết với tế bào vật chủ và là thụ thể để virus xâm nhập vào tế bào. Các protein M, E và N là một phần của nucleocapsid của các hạt virus.
Bộ gen của virus corona là bộ gen lớn nhất trong số các virus RNA, bao gồm các vùng: vùng 5’UTR, khung đọc mở, vùng 3’UTR và cuối cùng là đuôi-poly (A). Dịch tễ 6 Xác suất lây nhiễm SARS-CoV-2 là một hàm của thời gian và mức độ tiếp xúc gần giữa các trường hợp chưa có miễn dịch. Các yếu tố sau là chất xúc tác cho các ổ dịch bùng phát[2]: 1. Tại nhà Tỷ lệ lây nhiễm tại nhà trải rộng (từ 11% đến 19%) trong ba nghiên cứu.
Một nhóm nghiên cứu lưu ý rằng những người tiếp xúc trong gia đình và những người đi di chuyển cùng chuyến với người mắc Covid 19 có nguy cơ lây nhiễm cao gấp 6 đến 7 lần so với những người tiếp xúc gần khác và trẻ em cũng dễ bị mắc bệnh như người lớn. Trong một nghiên cứu khác, có 32,4% người tiếp xúc sống cùng nhà của 35 ca bệnh khởi phát (48 trong tổng số 148) đã bị mắc bệnh ; tuy nhiên tỷ lệ phần trăm này dựa trên giả thiết tất cả các ca bệnh thứ cấp đều đã bị mắc bởi ca bệnh đầu tiên. Trong hộ gia đình, tỷ lệ lây nhiễm có thể đạt tới 75% hay cao hơn. Nơi làm việc Từ đầu tháng 1 năm 2020, đã có bằng chứng cho thấy SARS-CoV-2 lây truyền trong các cuộc hội thảo và các cuộc họp của công ty.
Tiếp đó, một ổ dịch SARs-CoV-2 đã được báo cáo tại một tổng đài chăm sóc khách hàng, với 94 trong số tổng 216 nhân viên làm việc cùng tầng đã bị mắc bệnh, nghĩa là tỷ suất tấn công là 43,5%. Khi xuất hiện một cá nhân bị mắc bệnh, nơi làm việc có thể khuếch đại nghiêm trọng sự lây nhiễm ở các ổ dịch bùng phát tại địa phương. Bệnh viện và các trung tâm chăm sóc sức khỏe Bệnh viện là môi trường thuận lợi để phát tán virus SARS-CoV-2. Trong một số trường hợp, các bệnh viện thậm chí có thể là ổ dịch chính, vì sự lây nhiễm nhanh chóng từ bệnh nhân nhiễm, tạo điều kiện truyền bệnh cho nhân viên y tế và bệnh nhân không bị mắc bệnh.
6 tuần đầu tiên của dịch bệnh ở Trung Quốc ghi nhận 1.716 trường hợp mắc bệnh được xác nhận bằng xét nghiệm a nucleic là các nhân viên y tế và có ít nhất 5 người chết (0,3%). Một nghiên cứu từ bệnh viện báo cáo rằng virus có mặt rộng rãi trong không khí và trên bề mặt vật thể ở các khoa hồi sức tích cực (ICU) và các khoa phòng khác, gợi ý nguy cơ lây nhiễm cao cho nhân viên y tế. Sự lây nhiễm là lớn hơn tại ICUs. Virus được tìm thấy trên sàn nhà, chuột máy tính, thùng rác, tay vịn và trong không khí cách bệnh nhân khoảng 4 m.Việc thực 7 thi nghiêm ngặt các biện pháp kiểm soát lây nhiễm và sàng lọc nhân viên bệnh viện sẽ là các biện pháp quan trọng đối phó với các đợt COVID-19 trong tương lai.
Một số yếu tố khác Cơ sở y tế chăm sóc dài hạn; máy bay và các tàu quân sự; các cuộc tụ họp đông người và các cuộc tụ họp tôn giáo; trường học;…cũng là các địa điểm có sự lây nhiễm cao cần được chú trọng trong công tác phòng chống đại dịch[2].