mở đầu cho văn xuôi tự sự thời trung đại. Tác phẩm đã có một bước đi khá dài trên lộ trình văn học. Thời gian với những gập ghềnh của nó đã làm đổi thay mọi thứ. Đầu thế kỷ XV, giặc Minh ra tay hủy diệt sách vở của ta, Thiền uyển tập anh nhờ lớp áo nhà chùa mới thoát khỏi bàn tay đẫm máu ấy.
Thế nhưng, cát bụi thời gian cũng làm cho nó ít nhiều đổi thay diện mạo. Thời gian gần nhất được đề cập trong truyện là nửa đầu thế kỷ XIII, trong khoảng những năm 1230. Vì cư sĩ Ứng Vương, người cuối cùng của thiền phái Vô Ngôn Thông được ghi tiểu truyện làm quan dưới triều Chiêu Lăng Trần Thái Tông (ở ngôi 1225 – 1231). Thiền sư Y Sơn, người cuối cùng của Thiền phái Tì – ni – đa – lưu – chi, mất năm 1213.
Như vậy, tác phẩm ra đời sau đó ít lâu, khoảng năm 1337 như đã nói ở trên. Từ mốc thời gian đó, người ta có thể trực tiếp hoặc gián tiếp nhận ra sự có mặt của Thiền uyển tập anh trong mối tương quan với các tác phẩm khác. Lịch sử lưu truyền văn bản trải qua một thời gian lâu dài, từ thời Trần, Hồ, Lê, Nguyễn cho đến ngày nay. Tác phẩm lưu truyền dưới hình thức khắc in và chép tay.
Đối chiếu Thiền uyển tập anh và Lĩnh nam chích quái, một tác phẩm được cho là của Trần Thế Pháp viết vào thời Trần, người ta tìm thấy bốn truyện trong Lĩnh Nam chích quái có nội dung và cách diễn đạt giống như của Thiền uyển tập anh. Đó là truyện Không Lộ và Giác Hải của thiền phái Vô Ngôn Thông và truyện Đạo Hạnh, Minh Không của thiền phái Tì – ni – đa – lưu – chi. Theo nhà nghiên cứu Lê Mạnh Thát, nhiều khả năng Lĩnh Nam chích quái đã chép lại từ Thiền uyển tập anh. Thứ nhất, “cái đầu đề “chích quái” thì khả năng trích dẫn và thu lượm các tiểu truyện từ nhiều nguồn khác nhau là một sự thực”.
Thứ hai, “đọc bốn truyện này, văn phong của chúng tỏ ra thống nhất với văn phong của các truyện khác trong Thiền uyển tập anh. Trong khi đó nếu so với các truyện khác của chính bản thân Lĩnh nam chích quái thì không ăn khớp lắm”. [52, 29] Đời Hồ, giặc Minh mượn cớ “phù Trần diệt Hồ” sang xâm lược Đại Việt. Chúng cướp phá và tiêu hủy mọi sách vở, thư tịch, Thiền uyển tập anh nhờ gắn mình nơi cửa Phật nên không bị tiêu hủy.
Người phương Bắc đã thu lấy và dùng một phần để viết An Nam chí nguyên. Trong mục Tiên Thích của sách này có ghi vắn tắt tiểu sử của 14 vị thiền sư trong đó có 13 vị có tên trong Thiền uyển tập anh. “So sánh những ghi chú của nó về 13 vị ấy, thì trừ Thảo Đường ra, mà Thiền uyển tập anh không có truyện, số còn lại có văn cú hoàn toàn giống với một đoạn trong truyện của những thiền sư ấy trong Thiền uyển tập anh”. [52, 32] Như vậy, An Nam chí nguyên đã lấy trực tiếp từ Thiền uyển tập anh hoặc gián tiếp từ một nguồn sách nào đó đã sử dụng Thiền uyển tập anh.
Sang đời Lê, xã hội Đại Việt có sự đổi khác. Nho học dần dần được xem trọng. Phật giáo mất dần vị trí độc tôn. Tuy nhiên, những người nặng lòng với Phật pháp vẫn nuôi khát vọng chấn hưng Phật học, nối tiếp con đường mà các thế hệ trước đã qua.
Thiền uyển tập anh đã được trích dẫn trong Tục Việt điện u linh tập của Nguyễn Văn Chất. Sau đó lại được một người “vốn học sách Nho, tham cầu Phật điển” đã “sửa lại chỗ sai, bổ vào chỗ sót” để Thiền uyển tập anh lại xuất hiện vào triều Lê, niên hiệu Vĩnh Thịnh 11 (1715). Đây là bản cổ nhất, giá trị nhất hiện còn lại đến ngày nay. Đời Nguyễn, vì muốn xuất bản một bộ sử thiền tông Việt Nam, An Thiền đã góp nhặt viết thêm hoàn thành một bộ 5 quyển (gọi là Đại Nam thiền uyển truyền đăng tập lục hay Ngự chế thiền điển thống yếu kế đăng lục), trong đó Thiền uyển tập anh là quyển thượng, đứng đầu bộ sách.
Khi giặc Pháp sang xâm lược nước ta, bản chép tay A2767 do trường Viễn Đông bác cổ thuê chép ra đời. Chiến tranh qua đi, hòa bình lập lại, từ đó đến nay, Thiền uyển tập anh nhiều lần được dịch sang chữ quốc ngữ. Đời sống của Thiền uyển tập anh trong lòng dân tộc thể hiện ước vọng chấn hưng Phật học và một phần cho thấy phong trào nghiên cứu và học tập lịch sử Phật giáo Việt Nam rất sôi động và khởi sắc. Thiền uyển tập anh in bóng trong nhiều tác phẩm văn xuôi cùng thời.
Khi sưu tầm và tuyển chọn thơ văn thời Lý Trần, Lê Quý Đôn và nhiều học giả khác đã tuyển và ghi lại thơ ca của các nhà sư có trong tập truyện này. Người viết chưa trả lời được câu hỏi Thiền uyển tập anh có bao nhiêu truyền bản. Chỉ có thể biết được truyền bản xưa nhất ra đời vào thời Trần, năm 1337 và truyền bản xưa nhất hiện còn là bản năm Vĩnh Thịnh thứ 11 (1715). Thiền uyển tập anh đã có một bước đi lịch sử khá dài.
Dù có đôi chỗ bị mất mát, bị thay đổi qua các lần in khắc ghi chép lại nhưng đây vẫn là một trong số rất ít tác phẩm còn lưu lại khá trọn vẹn truyền bản của nó. Thể loại Hệ thống thể loại văn học trung đại rất phong phú và phức tạp. Hiện nay chưa có con số thống kê chính xác số lượng các thể loại văn học trung đại. Giữa các thể loại không có sự khu biệt rạch ròi.
Nhiều trường hợp, tên thể loại xuất hiện cùng với nhan đề cho nhịp nhàng, cân đối, hoặc thể hiện chức năng, hoặc thể hiện một đặc điểm nào đó của tác phẩm. Chính vì thế, các nhà thư tịch học Việt Nam vẫn hết sức lúng túng khi phân loại tác phẩm văn học trung đại Việt Nam căn cứ vào thể loại. Người sáng tác nhiều khi tự xác định thể loại cho tác phẩm của mình thông qua tên thể loại đi kèm với tên tác phẩm (Dụ chư tì tướng hịch văn, Thiên đô chiếu, Lâm chung chiếu, Bình Ngô đại cáo, Văn tế Trương Quỳnh Như,…). Tuy nhiên vẫn có một số văn bản “lưỡng tính”, không thể căn cứ vào tên gọi để xác định thể loại (vì phần lớn các tác phẩm trung đại vốn không thuần nhất về thể loại, tên thể loại trong nhan đề chưa hẳn là thể loại vốn có của bản thân tác phẩm) hoặc không thuộc về một thể loại nhất định.
Đó là trường hợp của Thiền uyển tập anh. Thiền uyển tập anh thường được gọi tên theo hai cách. Cách thứ nhất, gọi vắn tắt là Thiền uyển tập anh. Cách thứ hai, gọi kèm theo tên thể loại: Thiền uyển tập anh ngữ lục, Thiền uyển tập anh truyền đăng lục… “Trần Văn Giáp xác định Thiền uyển tập anh ngữ lục là một trong những tài liệu lịch sử xưa nhất của Việt Nam.
Ngô Tất Tố xếp Thiền uyển tập anh vào loại sử truyện. Học giả Dương Quảng Hàm giới thiệu Thiền uyển tập anh trong mục truyện kí đời Trần. Các tác giả Văn Tân, Nguyễn Hồng Phong, Nguyễn Đổng Chi xác định sách Thiền uyển tập anh thuộc loại sử truyện. Học giả Nguyễn Lang đánh giá Thiền uyển tập anh là tài liệu sử cổ nhất về đạo Phật Việt Nam mà chúng ta hiện có.
Học giả Lê Mạnh Thát xem đây là một cuốn sử nhà chùa. Nguyễn Huệ Chi xác định nó là tác phẩm ngữ lục thuộc loại tản văn. Đinh Gia Khánh xếp Thiền uyển tập anh trong dòng văn học tự sự thời Lý - Trần. Nguyễn Tử Cường xác định Thiền uyển tập anh nghiêng về thể loại cao tăng truyện.
Nguyễn Hữu Sơn xác định Thiền uyển tập anh thuộc loại hình tiểu truyện Thiền sư. Nguyễn Công Lý cho rằng đây là tác phẩm có sự pha tạp, đan xen giữa các thể loại như hành trạng, tiểu truyện, truyền đăng, ngữ lục. Có nhiều ý kiến khác nhau trong cách xác định thể tài tác phẩm như trên là do đứng ở những góc độ nhìn nhận, đánh giá khác nhau, hoặc căn cứ vào những tiêu chí cụ thể phục vụ cho những mục đích nghiên cứu khác nhau. Hơn nữa, đây là một tác phẩm có giá trị về nhiều mặt: tôn giáo, triết học, sử học, văn học… nên có nhiều cách quan niệm về thể tài tác phẩm.
Từ những ý kiến nêu trên cho thấy, đứng ở góc độ văn chương, tác phẩm được xác định là văn xuôi tự sự, truyện, truyện ký, tiểu truyện nhân vật, tản văn. Có nhiều yếu tố đóng vai trò làm căn cứ trong việc xác định đặc trưng thể loại của tác phẩm văn học: chức năng, thể văn, đặc điểm thi pháp… Để khu biệt các thể loại, văn học dân gian dựa vào chức năng trong khi văn học viết trung đại căn cứ vào đặc điểm thi pháp. Về bản chất nghệ thuật, theo quan điểm của người viết, Thiền uyển tập anh mang đặc trưng thi pháp của thể loại truyện ký, thuộc tiểu loại tiểu truyện thiền sư, tức truyện kể về cuộc đời, tiểu sử của các thiền sư. Đặc trưng đó được thể hiện trên nhiều phương diện: từ tính chất ghi chép người thật việc thật cho đến kết cấu, hình tượng nhân vật và ngôn ngữ.
Đây là một tập truyện ký đậm chất văn chương. Và chỉ cần gọi “Thiền uyển tập anh” là đã đủ thấy vẻ đẹp cũng như màu sắc văn chương của nó. Người xưa làm văn chương bị chi phối bởi thể loại là chính. Một số thể loại văn học trung đại hiện nay đã vắng bóng trên văn đàn “một đi không trở lại”.
Riêng truyện ký với tiểu loại tiểu truyện nhân vật vẫn còn thịnh hành. Nó vừa là văn vừa là sử, lưu giữ kho tàng tri thức về các danh nhân. Vị trí của Thiền uyển tập anh trong văn xuôi Phật giáo thời Lý Trần Văn học Phật giáo thời Lý Trần là tinh hoa, đỉnh cao của văn học Phật giáo Việt Nam. Văn học Phật giáo thời Lý Trần để lại khối lượng tác phẩm khá đồ sộ.
Đó là nguồn di sản góp phần làm phong phú thêm các thể loại, đề tài cho văn học nước ta. Theo thống kê của tác giả Nguyễn Công Lý trong công trình Văn học Phật giáo thời Lý Trần – diện mạo và đặc điểm, có 16 thể loại với 471 đơn vị tác phẩm trong đó đời Lý 179 tác phẩm, đời Trần 292 tác phẩm.