Chương 1 TRUYỆN NGẮN NGUYỄN TRÍ TRONG DÒNG CHẢY VĂN HỌC VIỆT NAM (TỪ ĐẦU THẾ KỈ XXI ĐẾN NAY) 1. Diện mạo văn học Việt Nam (từ đầu thế kỉ XXI đến nay) Về mặt thời gian, chúng tôi giới hạn phạm vi khảo sát từ đầu thế kỉ XXI đến nay vì các lí do sau: Trước hết, đây là giai đoạn chứng kiến sự phát triển vượt bậc về mọi phương diện: kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội của đất nước. Quãng thời gian gần 20 năm tuy chưa dài, song cũng đủ để có những khảo sát, nhìn nhận về các sự kiện, hiện tượng văn học nổi bật ở chặng đầu tiên của thế kỉ mới. Thứ hai, sự cô gọn về diện khảo sát giúp chúng tôi có cái nhìn chi tiết hơn, tập trung hơn vào đối tượng nghiên cứu.
Thứ ba, đặt Nguyễn Trí vào giai đoạn này thay vì đặt vào một bối cảnh rộng hơn (từ 1986 đến nay) theo chúng tôi, là hoàn toàn hợp lí, vì lẽ các sáng tác của Nguyễn Trí được công bố chủ yếu từ những năm đầu thế kỉ XXI (rải rác trên các báo), và những tác phẩm có hệ thống, thực sự gây chú ý là từ sau năm 2010. Giai đoạn này vừa là bối cảnh, vừa là đối tượng miêu tả trong các truyện của Nguyễn Trí. Tuy nhiên, để thấy được diện mạo của văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XXI đến nay, cần có sự nhìn nhận khái quát về giai đoạn liền trước đó. Có thể nói, kể từ năm 1986, không khí Đổi mới đã thổi sinh khí mới cho văn học Việt Nam, từ văn xuôi cho đến thơ ca đều có những bước phát triển vượt bậc, đưa đến những chiều kích hiện thực mới mẻ và những cách tân nghệ thuật táo bạo.
Tinh thần “cởi trói” của chính sách Đổi mới đi vào chiều sâu và thực chất khi nghệ sĩ thực sự nhập cuộc, sáng tạo nên những tác phẩm mới lạ, hấp dẫn, đề cập được những yêu cầu cấp bách của cuộc sống, trong đó, kí và truyện ngắn nhanh chóng đạt những thành tựu to lớn bởi tính năng động của nó. Thể loại kí (phóng sự, bút 14 kí, kí sự) thời kì này có những cây bút đề cập trực diện vào các góc khuất của đời sống, đưa đến bức tranh toàn cảnh về xã hội lúc đó, như Phùng Gia Lộc, Ngô Ngọc Bội, Võ Văn Trực, Hoàng Hữu Các, Nhật Linh, Minh Chuyên,. Truyện ngắn đạt được sự nở rộ và độ chín về mặt nghệ thuật với sự xuất hiện của thế hệ nhà văn tài năng: Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Quang Lập, Tạ Duy Anh, Trần Đức Tiến, Phạm Ngọc Tiến, Bảo Ninh, Nguyễn Quang Thiều, Hòa Vang, Nguyễn Thị Minh Thư, Võ Thị Hảo, Trần Thùy Mai, Y Ban, Phan Thị Vàng Anh, Võ Thị Xuân Hà, Nguyễn Thị Thu Huệ,. Thơ không còn loanh quanh với cảm hứng lãng mạn khi nhìn về cuộc chiến như trước mà mang cảm hứng mới mẻ về đời thường, thế sự với những cây bút Nguyễn Khoa Điềm, Ý Nhi, Dư Thị Hoàn.
Tiểu thuyết sau Đổi mới phải mất vài năm mới đạt đến thành tựu xuất sắc với sự xuất hiện Thời xa vắng (1986) của Lê Lựu, Trại Bảy chú lùn (1987), Nỗi buồn chiến tranh (1990) của Bảo Ninh, Chim én bay (1988) của Nguyễn Trí Huân, Bến không chồng (1990) của Dương Hướng, Tiễn biệt những ngày buồn (1990) của Trung Trung Đỉnh, Vòng tròn bội bạc (1990), Ăn mày dĩ vãng (1992) và Phố (1993) của Chu Lai, Họ đã trở thành đàn ông (1992) của Phạm Ngọc Tiến, Biển cứu rỗi (1993) của Võ Thị Hảo,… Cảm hứng về chiến tranh lúc này vẫn chiếm ưu thế chủ đạo trong các trang viết, nhưng lại được viết với suy tư, nghiền ngẫm mang tính tái nhận thức về những được - thua, còn - mất của chính những tác giả từng bước ra khỏi cuộc chiến. Bên cạnh đề tài chiến tranh, cái nhìn thế sự, đời tư cũng được đề cập một cách sâu rộng trong các sáng tác của Tô Hoài với Nhớ Mai Châu (1988), Cát bụi chân ai (1992), Chiều chiều (1999), Ba người khác (tiểu thuyết mang hơi hướng hồi ký, 2007); Bùi Hiển với Tâm tưởng (1985), Ngơ ngẩn mùa xuân (1992); Nguyễn Khải với Thời gian của người (1985), Điều tra về một cái chết (1986), Vòng sóng đến vô cùng (1987), Một cõi nhân gian bé tí (1989), Một thời gió bụi (1993), Hà Nội trong mắt tôi (1995), Truyện ngắn và tạp văn 15 (1997), Thượng đế thì cười (2004); Ma Văn Kháng với Đám cưới không có giấy giá thú (1990), Trăng soi sân nhỏ (1995), Ngược dòng nước lũ (1998), Một mối tình si (2000); Lê Minh Khuê - cây bút sung sức của thời kì Đổi mới với Một chiều xa thành phố (1986), Bi kịch nhỏ (1993), Mái hiên (1998), Trong làn gió heo may (1999),. Bước sang thế kỉ XXI, sự phát triển của khoa học và công nghệ đã làm thay đổi mọi mặt đời sống xã hội. Manh nha từ cuối thế kỉ XX, chỉ vài năm sau, sang đến những năm 2000s, internet và chiếc máy tính trở thành một phương tiện kết nối phổ biến của người dân Việt Nam, tham gia sâu vào quá trình kiến tạo xã hội điện tử.
Như một hệ quả tất yếu, văn học nghệ thuật cũng bị cuốn vào thời đại internet và từ đây tiến bước sang một thời kì phát triển mới, cởi mở, sôi nổi, khác biệt vượt bậc so với các giai đoạn trước đó. Internet đã tạo ra một sân chơi rộng rãi cho sáng tạo văn học, làm thay đổi nhận thức về sáng tác, lưu hành và công bố tác phẩm. Công việc sáng tác giờ đây không còn là hình ảnh quen thuộc “trang giấy trước đèn” như bao thế hệ văn nghệ sĩ trước đó, nay nhà văn sáng tác trên bàn phím máy tính. Trước kia việc công bố tác phẩm phụ thuộc rất nhiều vào đơn vị xuất bản với việc cấp phép (nghĩa là sẽ có sự kiểm duyệt của nhà nước), in ấn và phát hành thì nay, nhà văn có thể tự công bố, lưu hành tác phẩm trên không gian mạng xã hội, đồng nghĩa với việc, nhà văn có thể theo dõi sự tồn tại của đứa con tinh thần trong lòng dư luận thông qua các diễn đàn mạng.
Internet cũng làm thay đổi cách tiếp nhận của người đọc. Người đọc truyền thống tiếp nhận tác phẩm thông qua sách, báo, đài, các buổi ra mắt, giới thiệu sách,. Mặc dù lối tiếp cận này ngày càng được tổ chức sao cho rút ngắn khoảng cách giữa người sáng tác và người đọc nhất, tuy vậy, khoảng cách ấy vẫn là rất lớn, nhất là phần đa các độc giả ở nông thôn. Trong khi đó, độc giả thế hệ @ lại có thể tương tác trực tiếp với tác giả thông qua các trang mạng xã hội, bất kể họ ở đâu.
Từ đó, người sáng tác cập nhật liên tục được những phản hồi nhiều chiều từ phía độc giả. Không gian văn học đương đại vì thế, cởi mở hơn, sôi động hơn. 16 Sự lớn mạnh của loại hình sáng tác mới này đã làm xuất hiện các khái niệm chưa từng có trước đó: văn học điện tử (electronic literature), văn chương kỹ thuật số (digital literature), văn học mạng (internet literature). Văn học trong thời đại công nghệ thông tin cũng tạo ra sự thay đổi lớn về đội ngũ tác giả.
Lúc này, những cây bút gạo cội vẫn tiếp tục sáng tác và gặt hái được nhiều thành công. Trong văn có Bảo Ninh, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Xuân Khánh, Lê Minh Khuê, Y Ban,. với những cách tân nghệ thuật; trong thơ có Hữu Thỉnh, Nguyễn Trọng Tạo, Dương Tường, Lê Đạt,. với những suy tư và trải nghiệm thế sự.
Tuy vậy, văn học từ đầu thế kỉ XXI đến nay chủ yếu vẫn là sân chơi của người trẻ. Sự xuất hiện của internet đã sinh ra một thế hệ nhà văn mới, nhà văn thời đại @ với những tên tuổi và tác phẩm văn học mạng: Trần Thu Trang với Phải lấy người như anh, Nhật kí tình yêu TIO, Cocktail cho tình yêu; Di Li với Trại hoa đỏ; Gào với Cho em gần anh thêm chút nữa, Nhật kí son môi, Yêu anh bằng tất cả những gì em có, Hoa Linh Lan; Hamlet Trương và Iris Cao với Ai rồi cũng khác, Thương nhau để đó; Anh Khang với Buồn làm sao buông, Đường hai ngả - Người thương thành lạ; Iris Cao với Người yêu cũ có người yêu mới; Nguyễn Phong Việt với Đi qua thương nhớ, Hà Kin với Chuyện tình New York,… Chịu sự quy định của môi trường sống với sự hội nhập sâu rộng với thế giới bên ngoài, các nhà văn sáng tác ở thập kỉ đầu tiên của thế kỉ XXI đã nhanh chóng bắt kịp những vấn đề của thời cuộc, đặc biệt là cuộc sống của người trẻ ở đô thị, có thể kể đến các tác phẩm tiêu biểu: Trả hoa hồng cho đất (Nguyễn Thị Diệp Mai), Công ty (Phan Hồn Nhiên), Không cùng tầng bay (Dương Nữ Khánh Thương), Ngôi nhà ngập tràn ánh nắng, Trở về (Phong Điệp), Giày đỏ (Dương Bình Nguyên), Mười sáu mét vuông, Song song (Vũ Đình Giang), Động vật trong thành phố (Nguyễn Vĩnh Nguyên),… Tất cả đều tập trung tái hiện góc nhìn của người trẻ về chính cuộc sống của lớp thị dân trẻ tuổi. Những mộng mơ, tranh đấu, những ưu tư, vật lộn trước thế giới náo nhiệt nhưng đầy cạm bẫy nơi đô thị 17 được khắc họa sống động, chân thực. Nhân vật đều ý thức được mặt trái của cuộc sống đô hội nhưng họ không thoát được sự cám dỗ từ nó, vẫn phải vật lộn mưu sinh trong những căn trọ ẩm thấp.
Nhiều truyện thể hiện được nỗi bất an của con người khi đối mặt với thế giới náo động nhưng ngột ngạt như bị đóng khung với không gian bê tông, khối hộp. Bên cạnh đó, đề tài giới tính được các nhà văn khai thác rất mạnh mẽ. Với sự cởi mở của môi trường xã hội, các quan niệm về giới tính đã thông thoáng hơn trước. Các tổ chức xã hội cũng có tiếng nói nhất định trong việc phá vỡ quan niệm cứng nhắc trước đây (cho rằng chỉ tồn tại hai giới).
Nhận thức mới của xã hội ngay lập tức phả vào văn chương và đều trở thành những hiện tượng văn học nóng hổi, thu hút được giới truyền thông. Có thể nói đây là thời kì lên ngôi của đề tài đồng tính với: Một thế giới không có đàn bà - Bùi Anh Tấn, 1981 - Nguyễn Quỳnh Trang, Nháp - Nguyễn Đình Tú, Song song - Vũ Đình Giang, Dị bản - Keng, Lạc giới - Thủy Anna,…. Thứ nữa, sự hội nhập rất sâu trong thế giới toàn cầu hóa đã đẩy mạnh chủ đề xê dịch, khám phá những vùng đất mới phát triển.