phần Mở đầu và Kết luận, Nội dung của luận văn sẽ được kết cấu thành ba chương: Chương một: Truyện ngắn Từ Nguyên Tĩnh, một không gian Xứ Thanh đậm nét Chương hai: Thế giới nhân vật đa dạng, phong phú Chương ba: Một số đặc điểm ở phương diện trần thuật 11 NỘI DUNG Chƣơng một TRUYỆN NGẮN TỪ NGUYÊN TĨNH, MỘT KHÔNG GIAN XỨ THANH ĐẬM NÉT Là một trong những cây bút khi đã thành danh rồi vẫn bám trụ tại mảnh đất quê nhà, phải chăng đó chính là lí do khiến không gian nghệ thuật chính trong truyện ngắn Từ Nguyên Tĩnh là không gian xứ Thanh, là con người và cuộc sống của mảnh đất miền trung nắng gió mặn mòi. Nông thôn Xứ Thanh qua hình ảnh “làng tôi” của tác giả Từ Nguyên Tĩnh sinh ra ở làng Bàn Thạch, xã Xuân Quang, huyện Thọ Xuân, Thanh Hoá, cách thành phố Thanh Hoá 36 km về phía tây tính theo đường chim bay. Đó là một làng thuần nông “ít học, chỉ thích cày ruộng, quanh quẩn với vài sào ruộng hoặc cày thuê cuốc mướn. Một vùng đất bán sơn địa, song có lẽ là mạch đất hưng vượng nên “sinh ra cả anh hùng và thi sĩ”.
Đây là quê hương của hai bậc anh hùng hào kiệt có công sáng lập nên hai triều đại lớn trong lịch sử dân tộc: Lê Hoàn và Lê Lợi; cũng là nơi phát tích nghề ca công. Mảnh đất giàu trầm tích văn hoá này trở thành nguồn cảm hứng dồi dào cho các sáng tác của Từ Nguyên Tĩnh. “Làng tôi” với những hiện thực bi hài trong quá khứ Truyện ngắn Từ Nguyên Tĩnh có một mảng lớn về hiện thực nông thôn và nông thôn ấy chủ yếu là sự việc và con người của quê hương tác giả. Có nhà nghiên cứu đã nhận xét rằng Từ Nguyên Tĩnh đã “mượn ô cửa làng mình để nhìn ra thế giới”.
Từ làng Bàn Thạch trong thực tế, vào đến tác phẩm lúc thì vẫn là làng Bàn Thạch, lúc lại trở thành làng La Đá Hạ. Với không gian làng mình, Từ Nguyên Tĩnh đã tái hiện bức tranh nông thôn xứ Thanh sống động đủ những cung bậc bi hài. Hãy bắt đầu bằng truyện ngắn “Kiếp người”. “Kiếp người” lấy cảm hứng từ hiện thực sau Cách mạng tháng Tám 1945, tiếp đến là cuộc cải cách ruộng đất vào những năm 50, 60 của thế kỉ trước ngay ở chính làng quê của tác giả, “làng tôi”, thậm chí là câu chuyện của chính gia đình “tôi” – tác giả.
Những vui buồn của những năm tháng ấy dường như không thể nguôi ngoai trong cảm xúc của những người trong cuộc. Qua câu chuyện của chị Kén- nhân vật trong truyện cũng là “chị ruột” của nhân vật người kể chuyện, hiện lên cuộc sống và không khí nông thôn xứ Thanh một thời. 12 “Năm 1945 chị Kén tôi mười sáu. Cùng lũ gái làng ra đình Bàn Thạch xem nghĩa quân cách mạng về cướp chính quyền Nam Triều”.
Sau đó là những ngày tháng sôi nổi của một nông thôn hừng hực khí thế cách mạng. “Chị tôi vào thanh niên cứu quốc, đi “một hai” tập võ bị. Cha mẹ tôi vui lắm. Chị Kén đã thành cách mạng rồi.” [33; 135] “Chị Kén tôi” đẹp nức tiếng trong vùng, “mặt tròn như vành trăng, da trắng, tóc dài.
Trời sao lại cho nhà tôi. Bây giờ những người còn sống cùng tuổi chị vẫn kể lại. Trầm trồ khen chị đẹp.” Chị đã lọt mắt xanh người cưỡi bạch mã về làng tước ấn tín của bọn cường hào địa chủ - anh Lượng. “Nhà tôi vinh dự có con rể làm lãnh đạo cách mạng.
Đám cưới của chị Kén và anh câu Lượng nổi tiếng cả một vùng”. Cải cách đến, bỗng dưng anh câu Lượng bị bắt, bị qui là phản động: “làm người cách mạng nằm bờ nằm bụi mà dám lấy con nhà bóc lột làng Bàn Thạch, mà tổng Cương Thạch này ai lạ gì con cháu cố Cửu. Ruộng đất của ông ta bằng cả hồ làng Bàn Thạch”. Chả là, “ông bà tôi vốn giàu có, cũng từ chuyện chân lấm tay bùn” mà nức tiếng tốt bụng của làng Bàn Thạch.
“Có năm làng mất mùa, đã lấy lúa của nhà giúp làng nộp thuế”. Song, giàu khi ấy là một “tội”, trở thành mầm họa. Máy bay Đa-cô-ta của Pháp oanh tạc chợ Rạng, cầu Quần Kênh được nghi là có “chỉ điểm”. Anh Câu Lượng “bị li khai khỏi tổ chức”, “không hiểu có bị tra tấn không nhưng người anh còm rom và mắc bệnh ho lao”.
“Xưa làng xã tung hô anh bao nhiêu thì thì bây giờ tẩy chay phỉ nhổ: “Cái quân phản động ấy dây vào làm gì. chắc là bị tra tấn trong tù không chịu nổi khai ra. Mà phải lắm đấy. Nó lại lấy con cái nhà giàu.
“Người ta quên đi công lao thầy mẹ tôi, chị Kén mua vàng , hiến của cho cách mạng. Họ cũng chẳng cần biết bom đạn và tai biến nhắm vào gia đình tàn tạ.” [33, 139] Đó là không khí của những năm cải cách ruộng đất với những chính sách bắt nguồn từ tư duy ấu trĩ, cực đoan mà ngay sau đó Đảng ta đã nhận ra sai lầm. Cái ấu trĩ, thiển cận của một thời khiến con người ta không quan tâm đến ngọn nguồn của sự việc để xem xét đánh giá, yêu và ghét một cách hồn nhiên theo cảm tính dẫn đến những oan sai cho bao số phận. Chị Kén “tôi” từ ngày ấy chìm nổi, ngụp lặn trong cuộc sống bi đát nhất, bị hạ nhục, bị dày vò, chị trở thành nạn nhân của sự sai lầm trong tư duy ấu trĩ.
Tác giả không giấu nổi sự xót xa cho thân phận người chị khốn khổ chân yếu tay mềm bị vùi dập tức tưởi: “…bó chị vào manh chiếu rách nát, khênh chị ra Mã 13 Tiền. Chị không tưởng tượng nổi được mình ra đi lại khốn khổ như thế này. Chị từng đẹp một thời. Ai nhìn đến chị thảy đều giật mình, cùng một kiếp người…Chị ra Mã Tiền không kèn trống, áo quan.
Con Tấn khóc như xé vải: Mẹ ơi! Mẹ ơi”[33, 150]. Qua câu chuyện về người chị gái, câu chuyện về làng Bàn Thạch, Từ Nguyên Tĩnh đã dựng lại không khí của những năm tháng ấy trên mảnh đất xứ Thanh. Nỗi đau không hề nhỏ, những mất mát xuất phát từ những sai lầm, song dẫu sao, khí thế cách mạng đang hừng hực khi đó đã cuốn đi tất cả. Truyện Gã nhà quê lại là câu chuyện về một kiếp người khác, kiếp của lão Cao, lão già cô độc chột một mắt để lại cho tác giả nhiều ấn tượng nhất mỗi khi nhớ về làng mình hay nếu có ai nhắc đến hai chữ “nhà quê”.
Chuyện về cuộc đời lão Cao làm nghề chăn vịt, biết đủ thứ chuyện trên đời. Cuộc đời lão như một pho sử của làng. Câu chuyện về cuộc đời lão cho ta hình dung về một nông thôn xứ Thanh ở một giai đoạn lịch sử một đi không trở lại. “Thời ấy dân mình ngu hơn bây giờ.
Chỉ biết nai lưng ra làm cho bọn chánh, lý hào mục hưởng”. Câu chuyện của lão Cao với lũ trẻ đưa người đọc trở về cái “thời ấy”, cái thời nô lệ. Lão Cao tứ cố vô thân không tấc đất cắm dùi, đổi lại Cao khoẻ mạnh và khá lanh lợi (bằng chứng là anh ta xúi cho cường hào địa chủ đào ao thả cá và người làng Bàn Thạch đã có một dãy ao tới vài chục mẫu). Cao phải đi làm thuê cho địa chủ, anh chàng nghèo hèn nhưng khoẻ mạnh đã đem lòng yêu con gái địa chủ và cũng được yêu lại.
Sự việc bị phát giác, Cao bị nhà địa chủ đánh cho gục đổ như cây chuối, lại bị làm nhục trước mặt người yêu. May nhờ có người đàn bà tàn tật dìu về thuốc thang mới thoát chết. Nhưng tình yêu của thời trai trẻ còn mạnh hơn cái chết. Cao rình gặp Liên và lần liều mạng này Cao phải trả giá bằng một con mắt.
Cao bị đuổi ra đám cồn hoang cắm lều chăn vịt. Rồi những năm cải cách, những người nghèo khổ như lão Cao trở thành “yếu nhân” trong làng. Lão Cao đã lọt vào tầm ngắm có thể làm chủ tịch xã bởi “cải cách người ta tìm người khổ nhất làng để làm chủ tịch xã. Trong làng, lão là người “bị ăn đòn roi của địa chủ nhiều nhất” [33; 27].
Nhưng cuối cùng lão Cao đã không được làm chủ tịch bởi lão gây ra chuyện động trời là tiếp tế trứng vịt cho địa chủ phản động. Câu chuyện về cuộc đời lão Cao càng tô đậm thêm bức tranh ảm đạm của những thân phận tối tăm, bé mọn chịu nhiều áp bức đè nén trong những năm trước cách mạng Tháng Tám. Đặc biệt, tác giả trở về với việc phản ánh những sai lầm, ấu trĩ 14 của một số chủ trương trong công cuộc cải cách ruộng đất, một hiện thực mà trước đây những cây bút thường né tránh. Có thể coi đó là một thái độ dũng cảm.
Những câu chuyện của chị Kén, của lão Cao làm hiện lên bóng mây u ám của nông thôn xứ Thanh một thời. Truyện Họ hàng nông dân lại là một cách tiếp cận khác, tiếp cận từ cái nhìn bên trong. Họ Công “toàn nông dân. Điều đó tỏ ra không có gì là thiệt thòi.
Bốn đời là nông dân. Thậm chí cả chục đời là nông dân”. “Điều đó đáng tự hào lắm”. Họ ấy “đông thật… mạnh thật”.
Ngày giỗ họ “các bậc bô lão ngồi ngắm con cháu ăn như dâu tằm ăn mà không dừng lại được, đưa tay lên vuốt chòm râu”. Đã thế, dòng họ này còn đã từng “thay nhau làm chánh, phó lý; hết cành trên lại xống cành dưới, hết cha đến con”. Song, dòng họ này cũng có “khối chuyện buồn” và buồn nhất là “không đào đâu ra người có chữ nghĩa”. “Mạnh và đông nhưng có nỗi buồn về thất học”.
Nếu nói về đức tính thì ông tổ họ này nổi tiếng tằn tiện. Thủa hàn vi “đi chợ tỉnh bán chanh không dám ăn quà, uống nước sợ tốn tiền. Dọc đường đái cố nhịn bằng được về nhà mới tiểu kẻo mất của. Còn ba cây số nhịn không nổi phải chọn một cục đất cay của người ta mà tè, đem về”[1, 8].
Có thể nói đây là chi tiết đắt giá về tính kiệm cần của người nông dân xứ Thanh. Nó “ngang cơ” với chi tiết ăn “cá gỗ” của người nông dân xứ Nghệ. Xứ Thanh vốn là mảnh đất thiên nhiên hà khắc, thiên tai địch họa luôn là nỗi lo sợ đối với người dân, vì vậy để sống được ở đây người dân phải hết sức tằn tiện và chịu khó. Đời con, đời cháu hình như cũng kế thừa được “đức tính” ấy.
Ông Thầu “có tài tần tiện đến mức lạ lùng.