mở đầu và góp phần khẳng định tên tuổi Chế Lan Viên trên văn đàn Việt Nam. Bút danh Chế Lan Viên gắn với tập thơ đầu tay này, sau đó cùng với những sáng tác khác tên tuổi ông sẽ còn có ảnh hưởng rộng dài trong văn học – văn hóa Việt Nam suốt nhiều thế kỷ. Đánh giá về Điêu tàn, Hoài Thanh đưa ra một nhận nhận xét ngắn gọn nhưng chính xác, toàn vẹn, tinh tế; hầu như các nhà nghiên cứu khi tìm hiểu về Điêu tàn đều phải trích dẫn, rằng: Điêu tàn đột ngột xuất hiện như một niềm kinh dị, một Tháp Chàm lẻ loi và bí mật. Nói không ngoa nếu trả lời, lý giải được một cách rốt ráo, thấu đáo những nhận xét của Hoài Thanh thì sẽ hiểu được Điêu tàn, với những câu hỏi như: Tại sao nói nó đột ngột xuất hiện? Tại sao nói nó như một niềm kinh dị? Tại sao nói như một Tháp Chàm lẻ loi, bí mật? Quả thật, Điêu tàn là: một niềm kinh dị, lẻ loi, bí mật; khi đi vào tập thơ, ta thấy bao trùm nó là cõi chết.1 Điêu tàn – thế giới chết Đọc Điêu tàn, có cảm tưởng như cái chết, cõi chết trùm lấp cả thế giới trong tập thơ, là nỗi ám ảnh trong tư duy thơ của Chế Lan Viên.
Trong số 36 bài thơ của tập thơ, bất cứ bài nào tác giả cũng dùng những từ ngữ, hình ảnh nói về cái chết, liên quan đến cái chết, nằm trong trường Luận văn tốt nghiệp 9 Ngô Hà Giang LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Sự sống và cái chết trong thơ Chế Lan Viên nghĩa, trường liên tưởng về cái chết, cụ thể như: cõi âm, linh hồn, ma quỷ, huyệt mộ, chôn, nấm mồ, quàng liệm, máu, chém giết, chiến địa, cõi hư vô, xương, sọ người, thi thể, xác thịt, bóng tối, rửa tan, yêu tinh, khí tanh hôi… Những từ ngữ đó đều được tác giả sử dụng với mật độ dày đặc, với tần suất rất cao. Có thể nói những từ ngữ, hình ảnh này là “bộ đồ nghề cơ bản của tư duy” để tác giả nói – suy nghĩ về cái chết. Cái chết, sự chết là một mảng, một khía cạnh, một phạm vi quan trọng của đời sống hiện thực, quan trọng như chính sự sống vậy, vì có ai sống mà không phải chết. Chính vì thế trong nhận thức về cái chết con người có một hệ thống rất phong phú về từ ngữ, hình ảnh dùng để phản ánh, nhận thức cái hiện thực khách quan, tất yếu đó.
Và Chế Lan Viên đã lựa chọn, sử dụng hầu hết cái vốn từ nằm trong trường nghĩa dùng để nhận thức, phản ánh về cái chết. Cái chết là nơi mà tư duy, ngôn ngữ, hồn thơ Chế Lan Viên “thường xuyên lui tới”, nó trở thành một đề tài, chủ đề chính yếu của tập thơ. Cụ thể: Trước hết, nói về cái chết, với từ chết làm từ trung tâm, tác giả sử dụng các từ ngữ, hình ảnh liên quan đến cái chết với cường độ, mật độ như sau: cõi chết (Cái sọ người); cõi âm (Tạo lập); cõi chết, âm giới (Bóng tối); cõi tang (Thu); sắc chết (Tiết trinh); âm giới (Cõi ta); ý chết (Hồn trôi), phút chết (Điệu nhạc điên cuồng), cõi chết (Đừng quên lãng), chết rồi (Đọc sách), người chết (Xương khô). Từ sự thống kê này cho thấy từ chết (hay những từ đồng nghĩa, có ý nghĩa tương đương cùng chỉ cái chết) xuất hiện trong 11 bài thơ trên tổng số 36 bài của tập thơ Điêu tàn – chiếm hơn 30,5%.
Chẳng hạn như: “Có tưởng lại mảnh hồn mi đau khổ Đang lạc loài trong Cõi Chết xa xôi?” (Cái sọ người) Và: “Cũng như thế, nơi xa xăm trong cõi Chết Luận văn tốt nghiệp 10 Ngô Hà Giang LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Sự sống và cái chết trong thơ Chế Lan Viên Bao cô hồn vẫn sống tháng ngày qua,” (Bóng tối) Ngoài ra còn rất nhiều câu thơ khác có từ chết hoặc các từ khác có nghĩa tương đương, mà ở đây do điều kiện không thể liệt kê hết. Khi nói đến cái chết là ta nghĩ ngay đến hồn, nói cách khác hồn nằm trong trường nghĩa, trường liên tưởng với từ chết. Do đó, không phải ngẫu nhiên mà từ hồn xuất hiện với một mật độ dày đặc đến vậy: hồn, hồn mi, hồn ta (Cái sọ người); hồn dạt trôi, hồn say sưa (Ngủ trong sao); hồn u tối, hồn của ai, linh hồn (Ta); cô hồn (Trên đường về); hồn trôi (Chiến tượng); hồn phách, hồn ta (Tạo lập); đáy hồn mơ, tấm hồn ta (Những nấm mồ); cô hồn, cô hồn, hồn ta (Bóng tối); linh hồn chìm đắm, linh hồn ta, hồn nàng, mảnh hồn ta (Đêm tàn); lớp hồn tôi, hồn tôi, hồn tôi, hồn tôi, hồn (Hồn trôi); hồn ma, hồn tôi, hồn cô (Vo lụa); hồn tôi (Thu); hồn bay, hồn ma, hồn đau (Trăng điên); hồn ta (Đợi người Chiêm nữ); hồn tôi (Xuân); xác hồn ta, linh hồn (Cõi ta); hồn ta tê liệt, Hồn Điên, hồn tàn, hồn quạnh quẽ (Điệu nhạc điên cuồng); hồn ta, hồn ta (Đừng quên lãng); hồn ma, phách hồn, trong hồn, hồn ma (Mồ không); hồn tôi (Đọc sách); hồn ta (Nắng mai); hồn (Tắm trăng); vạn cô hồn, cô hồn, hồn yêu tinh, hồn yêu tinh (Xương khô); mảnh hồn ta (Đám ma); những linh hồn, cô hồn, các cô hồn (Tiếng trống); cô hồn, muôn cô hồn, hồn trôi (Sông linh); tấm hồn mơ (Máu xương); hồn ta (Xương vỡ máu trào); muôn vạn linh hồn (Đầu mênh mang). Như vậy, ở đây từ hồn xuất hiện trong trong 29 trên tổng số 36 bài thơ – chiếm hơn 80,5 %.
Chẳng hạn như: “Đây, chiến địa nơi đôi bên giao trận Muôn cô hồn tử sĩ thét gầm vang” (Trên đường về) Và: “Ta hãy nghe mơ màng trong cỏ héo, Tiếng cô hồn lặng thở khí trời đêm!” Luận văn tốt nghiệp 11 Ngô Hà Giang LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Sự sống và cái chết trong thơ Chế Lan Viên (Bóng tối) Và vv. Nói đến cái chết còn thì hình ảnh sọ người, óc, đầu lâu cùng nằm trong cùng một trường nghĩa, trường liên tưởng; và Chế Lan Viên đã sử dụng những từ ngữ này trong tập thơ với tần suất xuất hiện là: sọ người, sọ, chiếc sọ (Cái sọ người); sọ, đáy óc (Ta); đầu lâu (Bóng tối); đầu chiến sĩ (Xuân về); sọ trắng, óc (Tiết trinh); đầu lâu, đầu ta (Mơ trăng); đầu rơi (Chiến tượng); sọ dừa (Mộng); chiếc sọ dừa, đỉnh sọ (Điệu nhạc điên cuồng); đầu sa, đỉnh sọ, đầu lâu, quỷ không đầu (Đầu rơi); đầu lâu, sọ dừa, sọ dừa (Xương vỡ máu trào); đỉnh sọ, sọ trắng, sọ ta (Đầu mênh mang). Như vậy, qua đây ta thấy từ sọ xuất hiện trong 12 bài trên tổng số 36 bài – chiếm hơn 33%. Một vài câu thơ có hình ảnh sọ người như: “Hay mi nhớ cảnh pháp trường ghê rợn Sọ muôn người lần lượt đuổi nhau rơi?” (Cái sọ người) Và: “Và mõ làng não nùng reo lốc cốc, Tựa đầu lâu reo dưới khớp xương tàn”.
Cái chết làm liên tưởng đến xương, tủy, hài cốt, và tác giả tập Điêu tàn đã sử dụng một cách cụ thể là: xương mỏng manh, khối xương khô (Cái sọ người); xương Chàm tuôn (Trên đường về); xương tàn, xương rên (Bóng tối); hài cốt (Xuân về); xương (Tiết trinh); xương người rên rỉ khô (Mơ trăng); xương người (Mộng); xương khô, khớp xương (Điệu nhạc điên cuồng); xương khô, xương tàn, tủy nồng (Mồ không); xương, ngấm tủy (Tắm trăng); khớp xương ma, tủy đã cạn, khớp xương rợn trắng, tủy cạn, làn xương, nền xương, khớp xương tàn (Xương khô); đống xương khô (Song linh); tủy cứ nóng, tủy chảy, xương khô, tủy xương, xương khô, tủy Luận văn tốt nghiệp 12 Ngô Hà Giang LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Sự sống và cái chết trong thơ Chế Lan Viên nồng (Máu xương); xương máu (Đầu rơi); khối xương, xương trắng, xương vỡ rạn (Xương vỡ máu trào). Thống kê thấy từ xương cốt, tủy Chế Lan Viên sử dụng trong 15 bài trên tổng số 36 bài – chiếm hơn 41,6 %; điều đó thể hiện qua một vài câu thơ như: “Ta muốn cắn mi ra từng mảnh nhỏ! Muốn điên cuồng nuốt cả khối xương khô!” (Cái sọ người) Và: “Cành cây thắm nghiêng mình trong nắng sớm Không phải là hài cốt vạn quân Chiêm!” (Xuân về) Nằm trong trường nghĩa, trường liên tưởng với cái chết còn là máu, với những từ ngữ cụ thể trong tập thơ là: giọt máu đào (Cái sọ người); máu cứ chảy (Ta); máu chàm cuộn (Trên đường về); máu chim muông, máu đỏ, máu gào (Chiến tượng); máu Chàm ri rỉ chảy (Bóng tối); suối máu (Hồn trôi); khối máu (Xuân về); máu (Tiết trinh); vụt máu (Cõi ta); máu hồng tươi, máu cạn (Điệu nhạc điên cuồng); máu (Đừng quên lãng); máu đỏ (Mồ không); máu, huyết đẫm, máu đỏ (Xương khô); trời huyết, dòng máu thắm, tiếng huyết kêu rạo rực, nguồn máu chiến trường xa, huyết cuốn, giải máu bơ vơ, máu dân Chàm (Sông linh); máu cứ tươi, máu lan cùng tủy chảy, mạch máu, uống máu, máu đỏ (Máu xương); suối huyết, máu đào, xương máu (Đầu rơi); giỏ huyết, máu sôi trào, họng máu (Xương vỡ máu trào); nguồn máu vọt (Đầu mênh mang); ứ huyết (Điệu nhạc điên cuồng). Như vậy thống kê thấy từ máu, huyết xuất hiện trong 19 trên tổng số 36 bài – chiếm hơn 52,7 %. Vài câu thơ tiêu biểu: “Ta hãy nghe, trong gạch Chàm rơi lác đác, Tiếng máu Chàm ri rỉ chảy không thôi.” (Bóng tối) Và: Luận văn tốt nghiệp 13 Ngô Hà Giang LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Sự sống và cái chết trong thơ Chế Lan Viên “Mắt bừng nóng tự nhiên trào vụt máu Hầu câm khô tan vỡ dưới lời than!” (Cõi Ta) Và vv.
Rồi cái chết sẽ là sự phân rã của thân xác, thi thể, thịt: thi thể rữa tan (Cái sọ người); thịt, ý thịt (Ta); thịt (Tạo lập); thịt người (Bóng tối); thịt muôn người (Xuân về); hơi thịt (Tiết trinh); xác hồn (Cõi ta); thịt nát (Mồ không); thịt nát, đầy thịt (Máu xương); thớ thịt, thi thể (Đầu rơi), hình xác (Đọc sách). Các từ như: thi thể, thân xác, thịt xuất hiện trong 11 bài thơ trên tổng 36 bài – chiếm hơn 30,5 %. Vài câu thơ tiêu biểu: “Có tìm chăng, những chiều không tiếng gió, Của người mi thi thể rửa tan rồi” (Cái sọ người) Và: “Ta hãy nghe, trong mồ sâu lạnh lẽo, Tiếng thịt người nẩy nở tiếng xương rên” (Bóng tối) Và: “Đầy hơi thịt, ý ma, cùng sắc chết” (Tiết trinh) Các từ ngữ như pháp trường, giết cũng nằm trong mối liên hệ, trường liên tưởng với cái chết, chúng xuất hiện với tần suất như sau: pháp trường (Cái sọ người); ngày tiêu diệt (Ta); chiến địa, giao trận (Trên đường về); giết đi (Những nấm mồ); tiêu diệt (Bóng tối); bãi chém (Tiết trinh.