Chương 1 của luận văn chúng tôi tập trung đến các vấn đề lí luận cơ bản của ẩn dụ ý niệm, trong đó nhấn mạnh đến thi pháp học tri nhận dựa trên lịch sử nghiên cứu có liên quan đến đề tài. Với cách làm này, giúp chúng tôi có cách nhìn bao quát, toàn diện hơn về các công trình nghiên cứu đã có và tiếp thu những thành tựu khoa học của các nhà nghiên cứu đi trước. Từ đó, chúng tôi đã xây dựng cơ sở lí luận làm định hướng cho việc khảo sát ẩn dụ ý niệm trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ trong các chương tiếp theo. Ẩn dụ và ẩn dụ ý niệm 1.
Ẩn dụ theo quan niệm truyền thống Trong ngôn ngữ học truyền thống, ẩn dụ vốn được xét trên hai phương diện, thứ nhất là đối tượng nghiên cứu của từ vựng học như một phương thức chuyển nghĩa; thứ hai là đối tượng nghiên cứu của phong cách học, nó là một biện pháp nghệ thuật. Theo các nhà ngôn ngữ học, ẩn dụ là phương thức chuyển nghĩa phổ biến trong tất cả các ngôn ngữ. Đó là phép sử dụng từ ngữ được chuyển nghĩa dựa trên cơ sở tương đồng giữa một thuộc tính nào đó của cái dùng để nói và cái muốn nói. Nói cách khác, ẩn dụ là sự chuyển đổi tên gọi giữa hai sự vật có mối quan hệ tương đồng.
Để làm rõ hơn điều này, chúng tôi nêu lên một số định nghĩa về ẩn dụ như sau: Nguyễn Văn Tu cho rằng: “Ẩn dụ là phép gọi tên một sự vật bằng tên của một sự vật khác theo mối quan hệ gián tiếp. Muốn hiểu được mối quan hệ đó chúng ta phải so sánh ngầm. Khác với hoán dụ, phép ẩn dụ, ta theo tưởng tượng của ta mà gọi một sự vật chỉ có vài dấu hiệu chung với sự vật mà từ biểu thị trước thôi. Chính nhờ những dấu hiệu chung gián tiếp ấy mà ta thấy mối quan hệ giữa các sự vật khác nhau.
Đỗ Hữu Châu quan niệm: “Ẩn dụ là cách gọi tên một sự vật này bằng tên một sự vật khác, giữa chúng có mối quan hệ tương đồng” [4]. Sau này ông giải thích cụ thể hơn như sau: “Cho A là một hình thức ngữ âm, 9 X và Y là những ý nghĩa biểu vật. A vốn là tên gọi của X (tức X là ý nghĩa biểu vật chính của A). Phương thức ẩn dụ là phương thức lấy tên gọi A của X để gọi tên Y (để biểu thị Y), nếu như X và Y có nét nào đó giống nhau” [5, tr.
Nguyễn Thiện Giáp cũng cho rằng: “Ẩn dụ là sự chuyển đổi tên gọi dựa vào sự giống nhau giữa các sự vật hoặc hiện tượng được so sánh với nhau” [12]. Đào Thản đã giải thích khá cụ thể, rõ ràng ẩn dụ cũng theo quan niệm như vậy trong mối quan hệ với sự so sánh: “Ẩn dụ cũng là một lối so sánh dựa trên sự giống nhau về hình dáng, màu sắc, tính chất, phẩm chất hoặc chức năng của hai đối tượng. Nhưng khác với so sánh dùng lối song song hai phần đối tượng và phần so sánh bên cạnh nhau, ẩn dụ chỉ giữ lại phần để so sánh” [37, tr. Nguyễn Đức Tồn có quan niệm: “Bản chất của ẩn dụ là sự thay thế tên gọi dựa trên sự đồng nhất hoá các sự vật, hiện tượng, tính chất… khi tư duy liên tưởng của con người phát hiện ra ở chúng ít nhất cùng có một nét hay một đặc điểm nào đó” [39].
Ẩn dụ không chỉ là biện pháp làm giàu từ vựng mà còn làm cho nghĩa của từ ngày càng đa dạng, tinh tế không chỉ trong hệ thống ngôn ngữ, trong văn chương, và trong cả lời ăn tiếng nói hàng ngày của chúng ta. Hiện nay, ẩn dụ có phạm vi ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như triết học, tâm lí học,… Nó “tạo ra nhiều khuynh hướng, trường phái ngôn ngữ học, lí thuyết thông tin, xúc tiến sự tác động lẫn nhau và hội nhập các tư tưởng khoa học mà hệ quả là hình thành khoa học tri nhận. Ẩn dụ là chìa khóa mở ra sự hiểu biết những cơ sở của tư duy và các quá trình nhận thức những biểu tượng tinh thần về thế giới” [3, tr. Ẩn dụ theo quan điểm tri nhận Ẩn dụ theo quan điểm tri nhận thường được gọi là ẩn dụ ý niệm hay ẩn dụ tri nhận.
Lakoff và Johnson cho rằng: “Hệ thống ý niệm đời thường của chúng ta, mà trong khuôn khổ của nó chúng ta suy nghĩ và hành động, về bản chất là ẩn dụ”; “Ẩn dụ về bản chất chủ yếu mang tính ý niệm; Ẩn dụ ý niệm đặt cơ sở trên trải nghiệm hằng ngày” [10, tr. Như vậy, ngay cả trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta không chỉ dùng các ẩn dụ được quy ước hoá và từ vựng hoá những ẩn dụ ý niệm (conceptual metaphor) bằng một cách thuần tuý ngôn ngữ học mà sự thật là ta có suy nghĩ hay ý niệm hoá phạm trù “đích” (thông thường là miền cụ thể) thông qua phạm 10 trù “nguồn” (thông thường miền trừu tượng hơn). Lý thuyết chung của ẩn dụ nằm trong những đặc điểm của sự xác lập khái quát có tính liên tưởng và dựa trên kinh nghiệm của con người đối với thế giới. Trong quá trình đó, những khái niệm trừu tượng hàng ngày như thời gian, trạng thái, thay đổi, nguyên nhân, kết quả, mục đích.
đều trở nên có tính ẩn dụ. Ngôn ngữ học truyền thống coi ẩn dụ là một phương tiện tu từ, là một cách nói bóng bẩy dựa trên sự tương đồng giữa hai sự vật, hiện tượng. Ngôn ngữ học tri nhận khẳng định ẩn dụ không chỉ là phương tiện tu từ mà còn là phương thức của tư duy, là công cụ để ý niệm hóa thế giới. “Theo Lakoff, ẩn dụ ý niệm (conceptual metaphor) là các chiếu xạ có tính hệ thống giữa hai miền ý niệm: miền nguồn là một phạm trù trải nghiệm được chiếu xạ hay phóng chiếu vào miền đích là một miền trải nghiệm khác” [4, tr.
Lakoff và Johnson cho rằng, bản chất của ẩn dụ là “hiểu và trải nghiệm một loại vấn đề trong thuật ngữ của một loại vấn đề khác” thông qua sự chiếu xạ (mapping) từ lĩnh vực cụ thể sang lĩnh vực trừu tượng. Trong tâm trí chúng ta có một số cấu trúc ẩn dụ được ý niệm hóa. Họ đưa ra một số luận điểm chính về đặc trưng của ẩn dụ ý niệm, theo đó bản chất của ẩn dụ ý niệm hoàn toàn khác với ẩn dụ truyền thống [37, tr.35]: (1) Ẩn dụ là cơ chế thông qua đó chúng ta hiểu những khái niệm trừu tượng và thực hiện tư duy trừu tượng; (2) Nhiều đối tượng kể từ những điều đơn giản nhất, đời thường nhất đến những lí thuyết khoa học thâm sâu nhất chỉ có thể hiểu được thông qua ẩn dụ; (3) Ẩn dụ về bản chất mang tính ý niệm chứ không mang tính ngôn ngữ; (4) Ngôn ngữ ẩn dụ là sự thể hiện bề mặt của ẩn dụ; (5) Mặc dù phần lớn hệ thống ý niệm của chúng ta mang tính ẩn dụ, song cách hiểu ẩn dụ dựa trên cơ sở cách hiểu phi ẩn dụ; (6) Ẩn dụ cho phép chúng ta hiểu đối tượng tương đối trừu tượng hoặc đối tượng phi cấu trúc hóa thông qua đối tượng cụ thể hoặc ít ra thông qua đối tượng đã được cấu trúc hóa cao hơn; (7) Ẩn dụ chiếu xạ qua các miền ý niệm: miền nguồn và miền đích; (8) Hệ thống ý niệm chứa hàng nghìn lần chiếu xạ ẩn dụ quy ước làm hình thành tiểu hệ thống cấu trúc cao của hệ thống ý niệm; 11 (9) Hệ thống ý niệm quy ước chủ yếu là vô thức, tự động và được sử dụng thoải mái; (10) Ẩn dụ ý niệm không dựa trên cơ sở so sánh tương đồng; (11) Ẩn dụ thi ca phần lớn là sự mở rộng hệ thống quy ước thường nhật tư duy ẩn dụ của chúng ta. Các ý niệm ẩn dụ có thể vượt ra khỏi phạm vi của phương thức tư duy thông thường để bước vào lĩnh vực tư duy và ngôn ngữ tu từ, thơ ca, mĩ tự pháp; Những ý niệm thuộc về miền Đích thường trừu tượng và không thể tiếp xúc bằng các giác quan, chúng ta chỉ cảm nhận và tri nhận chúng bằng trí óc, cụ thể hơn là bằng những kinh nghiệm, trải nghiệm của mình.
Khi dùng khái niệm Miền, chúng ta phải hiểu rằng, ẩn dụ không đề cập đến những đối tượng, sự vật cụ thể mà là những không gian tư duy phức tạp. Trong quá trình nhận thức, những không gian nay không thể cảm nhận bằng các giác quan thông thường mà phải thông qua ẩn dụ để xác lập mối tương quan với những tư duy đơn giản, cụ thể hơn. Hay nói cách khác ẩn dụ phương tiện để chuyển đổi một không gian tư duy trừu tượng thành một không gian tư duy cụ thể và có thể cảm nhận trực tiếp. Ẩn dụ là cơ chế chủ yếu trong tư duy ý niệm của con người, phản ánh cách con người nhìn, nghĩ và nhận biết thế giới thông qua lăng kính ngôn ngữ và văn hóa dân tộc.
Trong đó, “các ý niệm có cấu trúc trường - chức năng được tổ chức theo mô hình trung tâm (hạt nhân) và ngoại vi. Hạt nhân là khái niệm nằm ở trung tâm của trường – chức năng và mang tính phổ quát, toàn nhân loại. Bao quanh khái niệm hạt nhân là trường ngoại vi bao gồm một số yếu tố tương liên lẫn nhau tác động đến khái niệm nằm ở trung tâm ý niệm. Theo các nhà khoa học tri nhận, ý niệm thường bao gồm hai thành tố: hình bóng ý niệm (concept profile) và hình nền ý niệm (concept base, concept frame).
Trong đó, hình bóng ý niệm (concept profile) là ý niệm được biểu đạt bởi từ đã cho như BÁN KÍNH, ĐƯỜNG KÍNH, TÂM; hình nền ý niệm (concept base, concept frame) là tri thức hay cấu trúc ý niệm được biểu đạt bởi từ đã cho, như trường hợp HÌNH TRÒN. Ý niệm Hình là BÁN KÍNH trong mối quan hệ với ý niềm Nền là HÌNH TRÒN, bởi vì bán kính không phải là một đường thẳng bất kì nào mà nó là một đường nối từ tâm ra đến đường tròn. Có thể thấy, trong cấu trúc ý niệm vừa phân tích ý niệm BÁN KÍNH có liên hệ chặt chẽ với ý niệm HÌNH TRÒN. Như 12 vậy, hình bóng ý niệm sẽ trở nên vô nghĩa nếu không có hình nền ý niệm.
Để xác định ý nghĩa của biểu thức ngôn ngữ phải được xác định có tính đến cả hình bóng ý niệm và hình nền ý niệm hay cả ý niệm lẫn khung/lĩnh vực. Các khái niệm và thuật ngữ liên quan đến ẩn dụ ý niệm 1.