Chương 1 giải thích đối tượng nghiên cứu của nhân học. Nói cách khác, chương này sẽ trả lời câu hỏi “nhân học nghiên cứu cái gì”. Tôi sẽ cho thấy nhân học có một đối tượng nghiên cứu rất đặc thù và có nhiều điểm khác biệt so với đa số các khoa học xã hội và nhân văn. Đồng thời, tôi cũng sẽ giải thích mối quan hệ giữa nhân học với nhân chủng học và dân tộc học, hai lĩnh vực rất gần gũi và thường được “đánh đồng” với nhân học.
Một phần không kém phần quan trọng trong chương này là giải thích nguyên nhân và bối cảnh ra đời của nhân học, xuất phát từ thời điểm các đế quốc thực dân châu Âu tiếp xúc với phần còn lại của thế giới ở châu Á, châu Phi và Mỹ La tinh, và từ đó bắt đầu có nhu cầu giải thích sự khác biệt giữa các nền văn minh ở châu Âu và các nền văn hóa khác trên thế giới. Chương 2 tóm lược một số lý thuyết có ảnh hưởng lớn nhất trong lịch sử nhân học. Mặc dù cách tiếp cận của các lý thuyết đó rất khác nhau, nhưng điểm chung của chúng là đều cung cấp một góc nhìn để lý giải tại sao lại có sự khác biệt văn hóa giữa các cộng đồng người trên thế giới. Chương 3 mô tả phương pháp nghiên cứu đặc trưng của nhân học, thường được biết đến với tên gọi “điền dã dân tộc học”.
Tôi sẽ trình bày các đặc điểm chính của phương pháp này, và cho thấy đây là phương pháp đặc biệt phù hợp để phát hiện sự khác biệt văn hóa và lý giải nguyên nhân tại sao lại có sự khác biệt đó. Chương 4 phân tích một số ứng dụng của nhân học trong cuộc sống hàng ngày và công việc chính của các nhà nhân học hiện nay. Nhà nhân học không “đóng đinh” với một công việc duy nhất và chuyên biệt. Thay vào đó, ở bất cứ nơi đâu và bất cứ thời điểm nào mà sự khác biệt văn hóa xuất hiện và trở thành vấn đề cần giải quyết hoặc lợi thế cần khai thác, thì ở đó sẽ có việc cho nhà nhân học và có chỗ để ứng dụng kiến thức nhân học.
Trong chương này, tôi sẽ lý giải tại sao nhân học không phải là nhân tướng học, và tại sao quan niệm rằng nhà nhân học chỉ làm việc ở những nơi vùng sâu, vùng xa, đói nghèo, lạc hậu là một quan niệm không còn hợp lý trong bối cảnh hiện đại. Tôi cũng sẽ phân tích khả năng ứng dụng của nhân học trong thế giới toàn cầu hóa hiện nay. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU & SỰ RA ĐỜI CỦA NHÂN HỌC Chương này trả lời hai câu hỏi lớn, đó là nhân học nghiên cứu cái gì, và nhân học với tư cách là một khoa học đã ra đời như thế nào. Trong các khoa học xã hội và nhân văn, nhân học là một trong những khoa học hiếm hoi mà mối quan tâm chính là tìm hiểu xem văn hóa của con người ở nơi này khác với văn hóa của con người ở nơi khác ở chỗ nào, và giải thích tại sao văn hóa của con người trên thế giới lại khác nhau và đa dạng như thế.
Nhân học, do đó, được ra đời với tư cách là một khoa học khi con người bắt đầu nhận ra rằng trên thế giới có nhiều cộng đồng người, nhưng không phải văn hóa của ai cũng giống mình, và có nhu cầu tìm hiểu lý do của sự khác biệt đó. Những người đi tiên phong trên chặng đường khám phá sự khác biệt đó là những nhà thám hiểm, các nhà truyền giáo, các thương nhân và đặc biệt là các nhà cai trị thực dân người châu Âu trên con đường chinh phục các thuộc địa ở Á, Phi, Mỹ La tinh và xa hơn thế nữa. Nhân học nghiên cứu cái gì? “Nhân học là khoa học nghiên cứu tổng hợp về con người, từ quá khứ cho đến hiện tại”. Đây là định nghĩa được sử dụng khá phổ biến trong các sách chuyên khảo và giáo trình về nhân học hiện nay ở Việt Nam (Bộ môn Nhân học - Đại học quốc gia Hà Nội 2014; Khoa Nhân học - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh 2014).
Về cơ bản, định nghĩa này phản ánh được chủ đề nghiên cứu bao trùm của nhân học. Đó là con người và xã hội loài người. Tuy nhiên, định nghĩa này làm nảy sinh một vấn đề: nếu nhân học nghiên cứu tất cả mọi thứ về con người, vậy còn gì để nghiên cứu cho các ngành khoa học khác? Câu trả lời là nhân học không nghiên cứu tất cả mọi thứ về con người. Trên thực tế, “con người” là một chủ đề quá rộng và đương nhiên không phải là đối tượng nghiên cứu của riêng nhân học.
Thay vào đó, đây là đối tượng nghiên cứu của toàn bộ các ngành khoa học xã hội và nhân văn. Luật, kinh tế học, lịch sử, triết học, ngôn ngữ học, văn học, tâm lý học, xã hội học, và nhiều khoa học khác, tất cả đều quan tâm đến các khía cạnh khác nhau của đời sống con người và xã hội loài người. Cũng như các ngành khoa học xã hội và nhân văn trên, nhân học quan tâm đến một khía cạnh của đời sống con người. Một thứ mà chúng ta nói đến hàng ngày, trong ngôn ngữ thường nhật cũng như trong giới khoa học, từ nông thôn đến thành thị, trên truyền hình, báo chí, và facebook, nhưng không phải ai cũng định nghĩa rõ ràng: đó là văn hóa của con người.
Một trong những lý do nhiều đại học lớn ở phương Tây không có khoa văn hóa học (cultural studies) bởi lẽ ngay từ đầu, nghiên cứu văn hóa đã là chủ đề nghiên cứu chính của nhân học. Văn hóa là gì? Đã có rất nhiều định nghĩa về văn hóa. Theo các thống kê không chính thức, con số định nghĩa có thể lên đến hàng trăm (Kluckhohn & Kroeber 1952). Tuy nhiên, giới nghiên cứu hiện nay tương đối thống nhất rằng văn hóa là những cách thức ứng xử, phong tục, tập quán, tri thức do con người tạo ra và hội tụ đủ ba điều kiện: (1) là những thứ mà một cá nhân học được khi sống trong một cộng đồng người, thay vì là những hành vi mang tính chất bản năng; (2) là những điều được đa số các thành viên trong cộng đồng và xã hội chấp nhận, thay vì là nhu cầu hay ý muốn của một cá nhân đơn lẻ, và (3) có sức sống tương đối lâu dài, được duy trì ít nhất qua một thế hệ, thay vì một xu thế ngắn ngủi và chóng tàn (Harris 1987).
Ví dụ: hắt hơi là một hành vi bản năng, xuất phát từ nhu cầu của một cá nhân đơn lẻ. Nhưng khi một người hắt hơi và lấy tay che miệng khi đứng ở chỗ đông người, đó là một hành vi văn hóa. Cái quy tác ứng xử đó không phải là bản năng bẩm sinh, mà là thứ mà người đó học được khi trưởng thành trong sự giáo dục của bố mẹ, ông bà và cộng đồng. Quy tắc đó không phải là ý thích riêng của cá nhân, mà là một chuẩn mực được đa số những người trong cộng đồng chấp nhận.
Quy tắc đó cũng không phải là một hiện tượng nhất thời, mà là một chuẩn mực có lịch sử tồn tại lâu dài, được lặp đi lặp lại qua nhiều thế hệ trong các cộng đồng người trên thế giới. Nhân học khác các khoa học xã hội khác như thế nào? Ngay cả khi nói rằng nhân học nghiên cứu văn hóa thì chúng ta vẫn chưa hoàn toàn làm rõ được sự khác biệt giữa nhân học và các khoa học xã hội khác. Lý do là vì kinh tế, triết học, văn học, luật pháp, lịch sử, nghệ thuật, âm nhạc đều được coi là các thành tố cơ bản của văn hóa. Và như thế, nếu chỉ nói rằng nhân học nghiên cứu văn hóa thì chủ đề nghiên cứu của nhân học vẫn là quá rộng, trừu tượng và trùng lặp với các khoa học xã hội khác.
Vấn đề này đòi hỏi chúng ta phải làm rõ điểm thứ hai. Nhân học nghiên cứu văn hóa theo một cách rất riêng. Trong khi đại đa số các khoa học xã hội khác đều nghiên cứu văn hóa nhằm mục đích tìm ra các quy luật chung, hay các quy tắc văn hóa phổ biến có thể áp dụng cho mọi trường hợp, bối cảnh, và cho đại đa số nhân loại, thì mục đích của nhân học lại là tìm hiểu sự đa dạng của văn hóa và so sánh văn hóa của các cộng đồng người khác nhau, trong các bối cảnh khác nhau. Tìm hiểu tính đa dạng và nghiên cứu so sánh là điểm khác biệt căn bản giữa nhân học và đại đa số các khoa học xã hội.
Thay vì cho rằng có những quy tắc phổ biến, đúng cho mọi trường hợp, có thể áp dụng cho nhân loại nói chung, thì các nhà nhân học cho rằng mỗi cộng đồng, trong từng bối cảnh cụ thể, sẽ có cách tư duy và hành xử khác nhau, và văn hóa của họ do đó rất đa dạng và khác biệt. Nói theo Eriksen: nhân loại ở khắp nơi trên thế giới có những mối quan tâm chung, nhưng cách thức họ giải quyết các mối quan tâm đó rất khác nhau (Eriksen 1995 :1). Nếu như Luật học nghiên cứu các quy tắc chung về luật pháp, chẳng hạn như khi xét xử thì phải có các quy trình tố tụng, thu thập nhân chứng, vật chứng, thì nhân học nghiên cứu tại sao ở nhiều cộng đồng, việc xét xử lại được tiến hành theo tập quán pháp. Một ví dụ như vậy là tục chích máu tìm kẻ gian của người Xơ Đăng ở vùng núi Quảng Nam, Việt Nam.
Khi hai người trong làng có tranh chấp hay mâu thuẫn, họ sẽ đến trình với già làng. Già làng sẽ tập hợp dân làng và những người có tranh chấp đến để giải quyết. Tại đây, già làng sẽ làm lễ cúng và phân công một người có uy tín trong làng đi vót hai cây nứa nhọn. Hai người tham gia chích máu để tìm công bằng sẽ cầm hai cây nứa, đưa lên trời để vái tạ thần linh, rồi xoay quanh để dân làng chứng giám.
Sau đó, mỗi người sẽ dùng que nứa đâm vào bàn tay của người kia, cùng một lúc. Nếu ai chảy máu trước thì người đó được coi là có lỗi và phải chấp nhận bồi hoàn thiệt hại cho người còn lại (Trần Thường 2014). Tương tự như vậy, theo các nguyên lý của kinh tế học hiện đại, đã là con người thì ai cũng có tư duy duy lý, và nguyên tắc của một hoạt động kinh tế, hay một giao dịch trao đổi - mua bán bao giờ cũng lấy tiền bạc và lợi nhuận làm đầu.