phần mở đầu, kết luận, phần phụ lục và các danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 4chƣơng chính nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và địa bàn nghiên cứu Chƣơng 2: Hoạt động sinh kế của ngƣời dân trƣớcnăm 2011 Chƣơng 3: Di dân tái định cƣ, môi trƣờng và tiền đề biến đổi sinh kế Chƣơng 4: Hoạt động sinh kế của ngƣời dân sau năm 2011 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các nghiên cứu ở Lào Trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, Lào tiến hành xây dựng nhiều công trình thủy điện làm biến đổi sinh kế của ngƣời dân nông thôn nông nghiệp. Sự biến đổi sinh kế này đã sớm là đối tƣợng nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trong và ngoài nƣớc, trong đó các nhà dân tộc học và nhân học có sự quan tâm nhiều hơn.
Đến nay khá nhiều các công trình nghiên cứu đƣợc công bố là các nghiên cứu sau đây. Đầu tiên là công trình nghiên cứu về “Aiding or Abetting?Internal Resettlement and International Aid Agencies in the Lao PDR” của tác giả Ian G.Baird và Bruce Shoemaker (2005). Nghiên cứu này cung cấp một bản tóm tắt của một số khái niệm và các chƣơng trình gắn với tái định cƣ nội bộ tại ở Lào. Cách tiếp cận này dựa trên phƣơng pháp quan sát riêng tại địa phƣơng và phỏng vấn trực tiếp ngƣời dân.Công trình này lập luận rằng: tái định cƣ nội bộ của cộng đồng dân tộc ở Lào chủ yếu là ngƣời bản xứ từ vùng cao, vùng sâu vùng xa và đến các vùng đất thấp hoặc đồng bằng dọc theo con đƣờng hoặc dòng sông lớn.
Những sáng kiến tái định cƣ nội bộ có liên quan đến các chính sách của Chính phủ Làovào việc loại bỏ du canh du cƣ tự do và trồng cây thuốc phiện, an ninh quốc gia và tập trung hội nhập của ngƣời dân nông thôn với thành thị và quốc tế. Do vậy, tỷ lệ lớn các cộng đồng vùng cao và xa xôi ở Lào đã đƣợc tái định cƣ dƣới sáng kiến của các Chính sách này và đã làm tác động tiêu cực tới hệ thống kinh tế, xã hội và văn hóa của các tộc ngƣời bản địa, gây xáo trộn cƣ trú của các cộng đồng tộc ngƣời ở vùng nông thôn xa 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com xôikhó mà xử lý. Công trình này có rõ về biến đổi sinh kế, nhƣng chƣa đi đến giải quyết vấn đề sinh kế và có xu hƣớng giúp tái định cƣ bền vững nhƣ thế nào của các cộng đồng tộc ngƣời dƣới tác động Chính sách nội bộ của Chính phủ Lào[24]. Công trình nghiên cứu về “Sinh kế nông thôn, đa dạng sinh kế và các lực lượng thị trường”của Bộ Nông nghiệp Lào(2006).Công trình này đề cập đến chiến lƣợc sinh kế của ngƣời dân Lào sống ở các khu vực nông thôn.
Theo bài viết, các hộ gia đình ở nông thôn có chiến lƣợc đa sinh kế, tham gia vào nhiều hoạt động khác nhau để giải quyết lƣơng thực và kinh tế cho hộ gia đình. Ngƣời dân khắc phụccuộc sống của mình bằng các hoạt động nông nghiệp là chính và kết hợp với một số phi nông nghiệp đơn thuần. Tuy nhiên, bài viết chƣa phân tích sâu các khía cạnh của sinh kế của ngƣời dân [2]. Công trình nghiên cứu về “Tái định cư và tác động văn hóa cộng đồng bởi dự án thủy điện Nam Ngum 2” của tác giả Sengxay Sengkham(2006).
Công trình này, tác giả cho rằng việc di dời và tái định pha trộn văn hóa, văn hóa của các dân tộc nên đƣợc bảo tồn và duy trì vì các dân tộc đã cùng chung sống ở đó từ rất lâu đời cho đến khi di dời, có thểvăn hóa là sự hạnh phúc và sự hài hòa trong xã hội và trong tự nhiên. Bên canh đó, bài viết có nói dự án đã không thực hiện nhƣ vậy, ngoài ra tác giả có bổ sung một số khía cạnh về việc bảo tồn các di sản văn hóa của các dân tộc sau khi tái định cƣ của ngƣời dân. Nhƣng chƣa thấy tác giả phân tích đến biến đổi sinh kế và định hƣớng phát triển sinh kế bền vữngcủa ngƣời dân [7]. Công trình nghiên cứu về “The Nam Theum 2 Resettlement Plan and Viability of Proposed Livelihood Options for Displaced Villages” của Sông Quốc tế(2009).
Công trình này tiếp cận theohƣớng phân tích thực hiện các phƣơng án về sinh kế cho ngƣời dân tái định cƣ dựa trên cơ sở kế hoạch của dự án thủy điện Nam Theun2(NT2). Các tác giả đã đi sâu vào phân tích quá 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trình di dân, TĐC và các phƣơng án mà nhà đầu tƣ đƣa ra cho ngƣời dân sau quá trình tái định cƣ. Theo đó sẽ phải dời hơn 6.200 ngƣời dân bản địa lên trên cao nguyên Nakai và cải thiện đời sống cho họ thông qua dự án tái định cƣ. Nhà thầu đã đƣa ra kế hoạch dự tính cho ngƣời dân sau tái định cƣ là thu nhập của ngƣời dân tái định cƣ sẽ tăng gấp ba trong vòng bảy năm, hứa hẹn với ngƣời dân cung cấp đất nông nghiệp, giống cây trồng, hệ thống tƣới tiêu mới, giống vật nuôi mới và các hoạt động lâm nghiệp cộng đồng, một hồ chứa thuỷ sản có khả năng hỗ trợ hơn 1.
Mạng lƣới sông ngòi Quốc tế ủy nhiệm hai chuyên gia để xem xét tính khả thi của các giải pháp sinh kế khác nhau này để đề xuất cho các cộng đồng Nakai Plateau. Tuy nhiên kế hoạch phát triển đó mang tính khả thi thấp, khó áp dụng. Công trình của Cục Lâm nghiệp Lào tiếp cận và đi sâu vào phân tích và đánh giá tính khả thi của các phƣơng án giải quyết vấn đề sinh kế ngƣời dân TĐC của Công ty Điện lực NT2. Tuy nhiên chƣa đƣa ra giải pháp để khắc phục tình trạng này[29].
Đáng chú ý là công trình nghiên cứu Ngân hàng Thế giới (WB, 2010): “Natural Resources Management for Sustainable Development: Hydropower and Mining”. Công trình này tiếp cập theo hƣớng quy định của pháp luật về phát triển nguồn nƣớc, trong thông báo của Chính phủ Lào và sự đối thoại với chính quyền về quản lý tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là đối với việc bảo vệ đa dạng hóa sinh kế của ngƣời dân phải có sự bảo quản và sử dụng tài nguyên nƣớc của ngƣời dân cho hợp lý. Bài viết có đƣa ra các nguồn nƣớc cung cấp cho sinh hoạt, tƣới tiêu và phát triển kinh tế của các cộng đồng ngƣời dân là rất quan trọng nhƣng đã bị phá hủy hoặc không an toàn do phát triển của các dự án thủy điện và các dự án khai thác mỏ. Với những tác động này pháp luật của Nhà nƣớc Lào kém quản lý.
Chiến lƣợc của chính phủ dù đƣợc nêu trong chính sách quốc gia là phát triển bền vững cuộc sống ngƣời dân tại các khu vực dự án thủy điện gây ra, tức là nhờ di dân tái định cƣ, phát triển cơ sở hạ 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tầng và cải thiện đời sống ngƣời dân của các dự án thủy điện. Nhƣng các nguyên tắc quản lý thiếu kinh nghiệm, các dự án ít đƣợc áp dụng và thực hiện kém hiệu quả, cuối cùng đời sống ngƣời dân vƣợt xa nhƣ mong muốn “vừa phát triển thủy điện vừa đƣợc phát triển đời sống ngƣời dân”. Bên cạnh đó, công trình nghiên cứ có nêu ra một sốgiải pháp xây dựng của các công trình thủy điện và mỏ để bảo vệ môi trƣờng tự nhiên, đặc biệt nguồn nƣớc tƣới tiêu để phát triển đời sống ngƣời dân. Tuy nhiên, bài viết này chƣa đề cập đến các giải pháp cụ thể về phát triển sinh kế bền vững cho ngƣời dân dƣới tác động của các dự án phát triển tại Lào [32].
Công trình nghiên cứu về “Một số vấn đề về giảm nghèo ở Lào” củaỦy ban Phát triển nông thôn và Xóa đói giảm nghèo Lào(2013). Trong quan điểm giảm nghèo của bài viết này tác giả xác định những thách thức ít nhiều liên quan tới các chính sách giáo dục, sức khỏe và an ninh lƣơng thực, đó có thể là chƣa quan tâm đúng mức của Nhà nƣớc hoặc các nhà tài trợ làm trầm trọng hơn trong xóa đói giảm nghèo giữa nông thôn-thành thị và các cộng đồng với nhau. Đồng thời, chƣa xác định những thách thức trong sinh kế phụ thuộc chủ yếu vào nguồn thu từ tài nguyên thiên nhiên, chẳng hạn nhƣ khí hậu, thủy văn, đất đai và rừng núi. Ngoài ra, có cung cấp thêm các khuyến nghị cho các phƣơng pháp thay thế để cải thiện an ninh lƣơng thực, khả năng giáo dục và bảo vệ sức khỏe để phát triển sinh kế bền vững của ngƣời dân sống ở nông thôn cũng nhƣ các cách thu nhập kinh tế của họ.
Công trình này rất quan trọng cho các công trình nghiên cứu đi sau. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu chƣa làm rõ về mức độ nghèo của dân và xác định định hƣớng từng bƣớc giảm nghèo ở Lào [4]. Một công trình nghiên cứu về“Văn hóa và các dự án tái định cư nông thôn tại Lào” của tác giả Sinavong(2014). Hƣớng tiếp cận này, tác giả tiếp cận sinh kế của ngƣời dân tái định cƣ từ góc độ văn hóa, cụ thể là yếu tố văn hóa 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trong di dân TĐC của dự án thủy điện tại Lào.
Về phƣơng pháp nghiên cứu, tác giả có sử dụng phƣơng pháp đánh giá thông qua các cuộc phỏng vấn, trong đó phỏng vấn các nhà quản lý và cán bộ dự án, phỏng vấn nhóm những ngƣời của dân đứng đầu nhƣ trƣởng thôn, trƣởng lão, trƣởng họ và tiến hành thu thập các tài liệu, báo cáo và dữ liệu cho mục tiêu nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu này cho rằng:các yếu tố văn hóa không gắn kết với môi trƣờng sống của ngƣời dân, đặc biệt là trong quá trình di dân và tái định. Với giải pháp, bài viết có nêu dù công tác di dân và tái định cƣ có khó khăn đến mức nào cũng phải xem xét văn hóa thật tốt vì giá trị văn hóa mang tính quyết định sự suy nghĩ của ngƣời dân dẫn tới sự tồn tại của họ. Tuy nhiên, trên cơ sở nghiên cứu này tác giả chỉ mới tiếp cận dƣới dạng những vấn đề biến đổi văn hóa văn hóa của ngƣời dân trong quá trình tái định cƣ của các dự án tại Lào, chƣa đề cập đến các hoạt động sinh kế của ngƣời dân có sự biến đổi ra sao sau tái định cƣ [6].