phần Mở đầu (7 trang), Kết luận (02 trang), Tài liệu tham khảo (7 trang), Luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và tổng quan về làng Bình Đà (15 trang) Chƣơng 2: Thực trạng nâng cấp lễ hội Bình Đà (19 trang) Chƣơng 3: Những đánh giá quá trình nâng cấp lễ hội Bình Đà (38 trang) 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN 1. Khái niệm Cộng đồng Khái niệm cộng đồng xuất hiện vào những năm 1940 tại các nƣớc thuộc địa của Anh. Đến năm 1950, Liên hiệp quốc công nhận khái niệm phát triển cộng đồng nhƣ một công cụ để thực hiện các chƣơng trình dự án phát triển của quốc gia. Về sau này các tổ chức phi chính phủ triển khai nhiều dự án phát triển kinh tế, xã hội ở các địa phƣơng cần có sự tham gia gia đóng góp của cộng đồng địa phƣơng thì khái niệm cộng đồng trở nên phổ biến hơn.
Theo Keith và Ary 1998 thì “Cộng đồng là một nhóm người, thường sinh sống trên cùng một khu vực địa lý, tự xác định mình thuộc về cùng một nhóm. Những người trong cùng một cộng đồng thường có quan hệ huyết thống hay hôn nhân, và có thể thuộc cùng một nhóm tôn giáo, một tầng lớp chính trị”[55, tr. Khái niệm này nhấn mạnh đến các yếu tố con ngƣời, cùng có một số đặc điểm trong trong mối quan hệ về cƣ trú, địa lý, dân tộc, huyết thống, văn hóa, tôn giáo,v. Cộng đồng là một trong những khái niệm xã hội học mang nhiều ý nghĩa khác nhau, đƣợc sử dụng một cách rộng rãi.
Theo nghĩa rộng, khái niệm này dùng để chỉ cộng đồng các quốc gia theo lãnh thổ nhƣ cộng đồng châu Âu, châu Á. Theo nghĩa hẹp, khái niệm này đƣợc dùng để chỉ một dạng xã hội, căn cứ vào những đặc điểm tƣơng đối nhƣ sắc tộc, văn hóa, tôn giáo có các cộng đồng Hồi giáo, cộng đồng ngƣời da đen.và nhỏ hơn nữa nó đƣợc dùng để chỉ những đơn vị xã hội cơ bản nhƣ làng, xã, gia đình có những đặc điểm chung về địa lý, văn hóa, lứa tuổi, nghề nghiệp. Theo giáo sƣ Tô Duy Hợp“Cộng đồng là một thực thể xã hội có cơ cấu tổ chức, là một nhóm người cùng chia sẻ và cùng chịu sự ràng buộc bởi các 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đặc điểm và lợi ích chung được thiết lập thông qua tương tác và trao đổi giữa các thành viên” [7, tr. Để hiểu rõ hơn khái niệm cộng đồng cần phải chỉ ra đƣợc các thành tố tạo nên cộng đồng.
Theo tác giả Tô Duy Hợp và Lƣơng Hồng Quang trong cuốn “Phát triển cộng đồng: lý thuyết và vận dụng” (2000), đã chỉ ra các yếu tố cấu thành nên cộng đồng bao gồm1: - Địa vực: Theo tác giả, địa vực là yếu tố đầu tiên và quan trọng bậc nhất đƣợc coi là cơ sở để ta xác định ranh giới của cộng đồng để phân biệt cộng đồng này với cộng đồng khác. - Yếu tố kinh tế: Yếu tố kinh tế không chỉ đơn thuần là các hoạt động kinh tế mà mà nó là yếu tố quan trọng về mặt vật chất để duy trì sự tồn tại của cộng đồng. Đồng thời kinh tế còn là thƣớc đo, là đòn bẩy đánh giá sự phát triển. - Yếu tố văn hóa: Đây là yếu tố rất quan trọng để nhận biết cộng đồng, trong đó đặc biệt chú ý đến các khía cạnh truyền thống, lịch sử, tộc ngƣời, tôn giáo – tín ngƣỡng, phong tục tập quán, hệ thống giá trị chuẩn mực.
Ở Việt Nam, lần đầu tiên khái niệm phát triển cộng đồng đƣợc giới thiệu trong lĩnh vực giáo dục ở các tỉnh phía Nam. Tuy nhiên, hiện nay khái niệm cộng đồng đang gây nhiều tranh cãi. Bởi nội hàm của từ này trong thực tế cũng cần đƣợc xem xét cẩn trọng. Đối với lễ hội hiện nay, cộng đồng/chủ thể văn hóa của lễ hội cần xem xét lại ở đây là ai? Quan niệm thƣờng thấy về cộng đồng là ngƣời dân trong làng hoặc địa vực văn hóa diễn ra lễ hội.
Tuy nhiên, ở một chừng mực nào đó, cộng đồng có thể chỉ là 1 cá nhân trong cộng đồng nhiều ngƣời. Ở đây chúng ta nhìn nhận vai trò cá nhân lớn tới mức ảnh hƣởng đến cả quyết định của ngƣời dân trong làng và địa vực nơi có lễ hội. Với vị thế nhƣ vậy, khái niệm 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cộng đồng cần đƣợc hiểu và phân tích thấu đáo ở từng trƣờng hợp và hoàn cảnh khác nhau. Nâng cấp lễ hội Những năm gần đây, cụm từ nâng cấp lễ hội đƣợc các phƣơng tiện truyền thông và các nhà khoa học thƣờng nhắc đến.
Các phƣơng tiện truyền thông cho rằng nâng cấp lễ hội là một quá trình đƣa lễ hội từ nhỏ đến lớn, từ bình thƣờng trở thành hoành tráng hóa, với sự tham gia của nhiều thành phần trong đó có các sự kiện để thu hút khán giả. Quan điểm của một số nhà khoa học cho rằng nâng cấp lễ hội nhƣ tổ chức một sự kiện [66] hay cho Lễ hội - "nâng" đến "cấp" nào? [57] nhƣng trong nhiều trƣờng hợp, việc bổ sung những yếu tố mới khi tổ chức lễ hội là điều không thể né tránh. Nhƣng điều quan trọng là phải tìm đƣợc sự dung hòa, tiếp nối với truyền thống. Bên cạnh đó dù nâng cấp lễ hội với mục đích gì hay với cách làm nhƣ thế nào thì vai trò của cộng đồng vẫn đƣợc coi trọng, trung tâm của lễ hội.
Bên cạnh đó, dù có thêm các hoạt động các yếu tố của nghệ thuật hiện đại trong lễ hội nhằm thu hút sự quan tâm của ngƣời dân nhƣng tinh thần, các giá trị của lễ hội phải đƣợc gìn giữ và phát huy mới đƣợc coi là nâng cấp lễ hội. Theo quan điểm của TS Đoàn Minh Châu trong Cấu trúc lễ hội đương đại [4, tr.119-132], chúng tôi sơ đồ hóa cấu trúc lễ hội truyền thống và nâng cấp lễ hội nhƣ sau: Bảng 1.1: Nâng cấp lễ hội Stt Lễ hội truyền thống Lễ hội hiện đại (nâng cấp) 1 Tế lễ: Nghiêm trang, thành kính Lễ Khai mạc Đám rƣớc và diễn xƣớng: Náo Diễu binh, diễu hành 2 nhiệt, hoành tráng Sân khấu hóa, diễn xƣớng hiện đại 3 Vui chơi và ăn uống: Xả hơi Vui chơi và ăn uống 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nhìn vào sơ đồ trên có thể thấy quá trình nâng cấp lễ hội hiện nay không thay đổi nhiều về các bƣớc. Sự thay đổi nằm ở hình thức của lễ hội. Về cơ bản, lễ hội vẫn giữ đƣợc các nghi thức của diễn xƣớng truyền thống.
Tuy nhiên, khi nâng cấp lễ hội, ngƣời ta thƣờng thêm các phần, các tiết mục, các tích trò nhằm thu hút ngƣời dân vào các hoạt động của lễ hội. Bên cạnh đó, có thể nhận thấy, xu hƣớng hành chính hóa lễ hội cũng đƣợc xem nhƣ biểu hiện của nâng cấp lễ hội hiện nay. Nâng cấp lễ hội hiện nay thƣờng đƣợc hiểu ở phạm vi quy mô của lễ hội và các hoạt động liên quan đến lễ hội. Ở phạm vi quy mô lễ hội: Một xu hƣớng phổ biến hiện là nâng cấp từ lễ hội của làng lên thành lễ hội của huyện của cả vùng.
Mục đích của nâng cấp lễ hội này là thu hút sự tham gia của ngƣời dân trong làng và ngoài làng. Nói cách khác, là nâng cấp lễ hội từ lễ hội của một cộng đồng nhỏ thành lễ hội của cộng đồng lớn hơn, đông đảo hơn. Một xu hƣớng nâng cấp nữa của nâng cấp lễ hội hiện nay là thêm các hoạt động liên quan. Đối với các lễ hội truyền thống có hoạt động đơn điệu thì nay thêm vào các hoạt động mới nhƣ: đá gà, kéo co, bắt vịt hay lễ tam sinh (đồ dâng cúng),.làm cho lễ hội ngày càng phong phú hơn nữa và thu hút nhiều đối tƣợng tham dự vào lễ hội.
Thêm vào đó, một xu hƣớng nữa là phục dựng lại các nghi lễ, các tích trò đã bị mai một của cộng đồng. Đây cũng là một biểu hiện của nâng cấp lễ hội hiện nay. Tất cả các xu hƣớng nâng cấp lễ hội này phải có sự chấp nhận của cộng đồng. Bởi vì họ là ngƣời gìn giữ và tổ chức những hoạt động này trong lai.
Nhƣ vậy, theo chúng tôi, nâng cấp lễ hội là biến đổi quy mô và các hoạt động liên quan đến lễ hội mà không mất đi bản chất vốn có của lễ hội truyền thống. Đối với lễ hội Bình Đà năm 2014, cụm từ nâng cấp lễ hội đƣợc sử dụng khi lễ hội có thêm nhiều yếu tố mới (chúng tôi xin trình bày cụ thể ở chƣơng 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Chẳng hạn nhƣ thêm nghệ thuật đƣơng đại: tiệc ánh sáng 3D, nghệ thuật thƣ pháp tại sân đình làng Bình Đà. Chính vì vậy nâng cấp lễ hội, việc bổ sung những yếu tố mới khi tổ chức lễ hội là điều không thể né tránh.
Nhƣng điều quan trọng là phải tìm đƣợc sự dung hòa, tiếp nối với truyền thống. Điều đó đƣợc thể hiện ở lễ hội Bình Đà năm 2014 khi thêm các yếu tố mới vào phần hội, không can thiệp vào phần lễ truyền thống của dân làng. Các quan điểm lý thuyết về bảo tồn di sản Ở nƣớc ta hiện nay, nhiều nhà quản lý và nhiều học giả có thẩm quyền trong lĩnh vực di sản ở nƣớc ta vẫn đang bảo vệ và cổ súy cho những quan điểm bảo thủ đối với bảo tồn di sản và vì thế, những mô hình bảo tồn di sản khác với quan điểm trên thƣờng chƣa đƣợc họ chấp nhận nhƣ là một trong những mô hình bảo tồn di sản. Thực ra, những tri thức mới về các mô hình bảo tồn di sản đã đƣợc phổ biến trong giới nghiên cứu văn hoá ở Việt Nam: Đã có hẳn một luận văn tiến sỹ trình bày về những vấn đề lý luận này [22].
Ashworth [31]- một học giả có uy tín hiện nay - đã tổng kết từ thực tế bảo tồn di sản ở nhiều nƣớc trên thế giới thành ba quan điểm và tƣơng ứng với nó là ba mô hình bảo tồn di sản: Bảo tồn y nguyên Đây là quan điểm dựa trên quan điểm bảo tồn văn hoá vật thể của các nhà bảo tàng học. Quan điểm này cho rằng, các sản phẩm của quá khứ cần đƣợc bảo tồn nguyên dạng nhƣ nó vốn có. Quan điểm này phát triển từ năm 1850 và thịnh hành một thời gian dài. Các nhà bảo tàng học nƣớc ta cũng chịu ảnh hƣởng khá mạnh bởi quan điểm này.
Đối với lễ hội truyền thống - một loại hình văn hoá phi vật thể - thì việc xác định đâu là các yếu tố nguyên gốc sẽ gặp phải những khó khăn.