Chương 1: Tổng quan về Tây Nguyên, dân tộc Ê Đê và sử thi Ê Đê Chương 2: Các dạng nhân vật và thi pháp thể hiện nhân vật trong sử thi Ê Đê qua tác phẩm Mdrong Dăm Chương 3: So sánh việc thể hiện nhân vật trong sử thi Ê Đê với sử thi Mơ Nông LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÂY NGUYÊN, DÂN TỘC Ê ĐÊ VÀ SỬ THI Ê ĐÊ 1. Thiên nhiên, xã hội, con ngƣời Tây Nguyên Tây Nguyên là vùng cao nguyên, giáp với Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia. Thực chất, Tây Nguyên không phải là một cao nguyên duy nhất mà là một loạt cao nguyên liền kề. Tây Nguyên lại có thể chia thành ba tiểu vùng địa hình đồng thời là ba tiểu vùng khí hậu, gồm Bắc Tây Nguyên (tương ứng với các tỉnh Kon Tum và Gia Lai, trước là một tỉnh), Trung Tây Nguyên (tương ứng với các tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông), Nam Tây Nguyên (tương ứng với tỉnh Lâm Đồng).
Khí hậu ở Tây Nguyên được chia làm hai mùa: mùa mưa từ tháng 5 đến hết tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4, trong đó tháng 3 và tháng 4 là hai tháng nóng và khô nhất. Do ảnh hưởng của độ cao nên ở các cao nguyên cao 400 - 500 m khí hậu tương đối mát và mưa nhiều, riêng cao nguyên cao trên 1000 m (như Đà Lạt) thì khí hậu lại mát mẻ quanh năm như vùng ôn đới. Tây Nguyên là vùng đất được ưu đãi về tài nguyên thiên nhiên. Tây Nguyên có đến 2 triệu hecta đất bazan màu mỡ, tức chiếm đến 60% đất bazan cả nước, rất phù hợp với những cây công nghiệp như cà phê, ca cao, hồ tiêu, dâu tằm, trà.
Cà phê là cây công nghiệp quan trọng số một ở Tây Nguyên. Tây Nguyên cũng là vùng trồng cao su lớn thứ hai sau Đông Nam Bộ, chủ yếu tại Gia Lai và Đắk Lắk. Tây Nguyên còn là vùng trồng dâu tằm, nuôi tằm tập trung lớn nhất nước ta, nhiều nhất là ở Bảo Lộc. Đây cũng là khu vực ở Việt Nam còn nhiều diện tích rừng với thảm sinh vật đa dạng, trữ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lượng khoáng sản phong phú hầu như chưa khai thác và tiềm năng du lịch lớn.
Tây nguyên có thể coi là mái nhà của miền trung, có chức năng phòng hộ rất lớn. Tuy nhiên, nạn phá rừng, hủy diệt tài nguyên thiên nhiên và khai thác lâm sản bừa bãi chưa ngăn chận được tại đây có thể dẫn đến nguy cơ làm nghèo kiệt rừng và thay đổi môi trường sinh thái. Vùng đất Tây Nguyên từ xưa vốn là vùng đất tự trị, địa bàn sinh sống của các bộ tộc thiểu số, chưa phát triển thành một quốc gia hoàn chỉnh. Tây Nguyên có khoảng 20 dân tộc khác nhau.
Nói là “khoảng” vì có dân tộc theo bảng phân định dân tộc chính thức của nhà nước hiện nay được coi là một nhánh của một dân tộc chung lớn hơn, nhưng cho đến nay lại không chịu chấp nhận cách phân loại đó mà tự coi mình là một dân tộc riêng. Như người Cà Dong ở miền núi tây Quảng Nam, theo bảng phân loại dân tộc học của nhà nước là một nhánh của dân tộc Xơ Đăng, nhưng hầu hết người Cà Dong nhất định tự coi mình là một dân tộc riêng với tất cả các đặc điểm riêng của một dân tộc độc lập… Các dân tộc ở Tây Nguyên thuộc hai ngữ hệ khác nhau: Môn-Khơme (hay Nam Á) và Malayo-Polynésien (hay Nam Đảo). Quan sát sự phân bố các dân tộc ở Tây Nguyên theo ngữ hệ có thể thấy một điều đáng chú ý: thuộc ngữ hệ Môn-Khơme có các dân tộc ở Bắc Tây Nguyên từ khoảng giữa tỉnh Gia Lai hiện nay trở ra, như các dân tộc Xơ Đăng, Cơ Tu, Dẻ Triêng, Rơ Mâm, Ba Na, Brâu…, và các dân tộc ở miền Nam Tây Nguyên từ nửa tỉnh Đắc Lắc trở vào như các dân tộc Mơ Nông, Kơ Ho, Mạ, Sre, Stiêng… Chen vào giữa, trên vùng đất từ giữa tỉnh Gia Lai hiện nay cho đến nửa tỉnh Đắc Lắc, là các dân tộc thuộc ngữ hệ Malayo-Polynésien gồm người Gia Rai, người Ê Đê, người Chu Rú, người Rakglei. Người Chàm sống ở vùng duyên hải Nam Trung Bộ cũng thuộc ngữ hệ này.
Đông, mạnh nhất ở Tây Nguyên là dân tộc Gia Rai, rồi đến người Ê Đê, người Ba Na, người Xơ Đăng… LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Cũng có những dân tộc rất nhỏ như người Châu ở trong thung lũng Mường Hon của núi Ngok Linh, chỉ có khoảng 80 người… Trong xã hội Tây Nguyên cổ truyền, vẫn còn rất đậm nét cho đến tận ngày nay, làng là đơn vị xã hội cơ bản và duy nhất. Không có đơn vị xã hội cao hơn làng. Trong nhiều ngôn ngữ các dân tộc Tây Nguyên không có từ để chỉ đơn vị cao hơn làng. Bon trong tiếng Mơ Nông, Buôn trong tiếng Ê Đê, Plei trong tiếng Gia Rai, Ba Na, Veil trong tiếng Cơ Tu… đều có nghĩa là làng.
Ngày trước trong một số dân tộc có từ T’ring dùng để chỉ liên minh giữa một số làng, nhưng đấy chỉ là những liên minh tạm thời để cùng nhau đối phó với một số trở lực nào đó, khi trở lực ấy đã được giải quyết thì những liên minh đó cũng tan rã, không hề có lãnh thổ và tổ chức hành chính tương đương. Trong xã hội cổ truyền Tây Nguyên cũng không có đơn vị nhỏ hơn làng. Ở đây ý thức về cá nhân chưa phát triển, không có cá nhân độc lập đối với làng. Con người là một bộ phận nhỏ chìm trong cộng đồng làng, hòa tan trong làng, không thể tách rời khỏi làng.
Ở Tây Nguyên, hình phạt nặng nề nhất, nổi đau đớn lớn nhất, điều nhục nhã nhất đối với một người là bị đuổi khỏi làng. Nếu ta thường nói người Tây Nguyên có tính cộng đồng rất cao, thì tính cộng đồng đó là tính cộng đồng làng, thậm chí còn sâu đậm và cụ thể hơn cả ý thức về tộc người. Một người Ê Đê biết mình là người Ê Đê, nhưng ý thức về tộc người Ê Đê không sâu đậm bằng ý thức về làng của mình. Ngày trước, trong chiến tranh bộ lạc, không phải chẳng hạn mấy làng Ê Đê này liên minh lại đi đánh nhau với mấy làng Mơ Nông kia, mà là hai ba làng Ê Đề này liên minh với vài ba làng Mơ Nông kia đi đánh hai ba làng Ê Đê khác liên minh với vài ba làng Mơ Nông khác.
Con người Tây Nguyên có nhiều phẩm chất đẹp, để lại những ấn tượng sâu sắc cho ai đã từng tiếp xúc với họ. Ấn tượng đầu tiên là sự trầm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Nhưng đó là sự im lặng lắng sâu của núi rừng. Từ sự trầm lặng dồn nén ấy, đến mùa lễ hội sẽ bùng lên thành những con người mang phẩm chất khác, đó là phẩm chất nghệ sĩ được hấp thụ trong sự phong phú của những điệu nhạc rừng tuôn chảy từ thuở hồng hoang.
Con người nghệ sĩ ấy thể hiện trước hết ở tâm hồn phóng khoáng, lấy lang thang phiêu bạt làm niềm vui của cuộc đời, không chịu ràng buộc bởi yếu tố vật chất. Trong mùa "ăn năm uống tháng" họ lang thang, uống rượu, vui chơi, ca hát đến quên cả thời gian. Có lẽ do sống trong môi trường phóng khoáng của tự nhiên dẫn đến sự phóng khoáng trong tính cách và tâm hồn. Môi trường rừng với sự phong phú của sản vật cùng những bí ẩn đã thôi thúc con người khám phá, chính vì vậy mà người Tây Nguyên có thói quen thích lang thang trong rừng, xem đó là một thú vui lớn.
Dần dần, lang thang đã trở thành một lẽ sống - lẽ sống nghệ sĩ. Tuy nhiên lang thang phiêu bạt chưa phải là biểu hiện rõ nhất và phong phú nhất của con người nghệ sĩ Tây Nguyên. Đặc điểm nổi bật chính là năng khiếu âm nhạc và điêu khắc, trong đó khả năng âm nhạc là hàng đầu. Đối với họ, có hai hình thức sinh hoạt chủ yếu là làm rẫy để có cái ăn vật chất và sinh hoạt âm nhạc để có "cái ăn" tinh thần.
Với thể chất cường tráng, họ có thể lao động không ngơi nghỉ; với tâm hồn khoẻ khoắn và tư chất âm nhạc bẩm sinh, họ có thể đánh đàn ca hát suốt đêm, thậm chí là suốt đời. Có lẽ vì vậy mà Nguyên Ngọc đã từng khẳng định rằng ở Tây Nguyên không có nghệ sĩ chuyên nghiệp. Người ta không làm nghệ thuật. Nghệ thuật tuyệt đối không phải là một nghề.
Nghệ thuật là đời sống, cách sống, thế thôi. Là hơi thở, là không khí. Con người Tây Nguyên do vậy luôn đậm đặc chất nghệ sĩ. Chất nghệ sĩ ấy đã làm nên một đời sống văn hóa lễ hội đặc sắc trên đất Tây Nguyên hùng vĩ và trữ tình.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hiểu được về vùng đất và cuộc sống của con người nơi đại ngàn Tây Nguyên sẽ giúp ta hiểu về những dân tộc sống ở nơi đây nói chung cũng như tộc người Ê Đê và nền văn hóa của họ nói riêng. Dân tộc Ê Đê và sử thi Ê Đê 1. Dân tộc Ê Đê Ê Đê là cộng đồng có gần 195.000 người có địa bàn cư trú tương đối tập trung ở tỉnh Đắc Lắc và miền tây hai tỉnh Khánh Hoà, Phú Yên. Ngoài ra, còn có các nhóm địa phương như Kpa, Adham, Bih, Ktul…với những tên gọi khác như Rađê, Đê, Kpa, Ktul… Người Ê Đê làm rẫy là chính, riêng nhóm Bih làm ruộng nước theo lối cổ xưa có trâu dẫm đất thay cho việc cày xới.
Người Ê Đê không đi vào cải tiến những công cụ làm rẫy mà tập trung vào thay đổi các khâu canh tác để giữ gìn cải tạo đất như luân canh, xen canh…Khai thác những đặc điểm khác biệt của tiểu khí hậu chẳng hạn như khi phơi rẫy thì gặp nắng, trỉa lúa thì có mưa…Người Ê Đê có rất nhiều hiểu biết về những biến đổi thời tiết hàng năm, về đất đai, cây cỏ, muông thú. Mặc dù đó mới chỉ là những tri thức ở dạng kinh nghiệm dân gian. Ở trình độ phát triển tư duy của mình, người Ê Đê vẫn quan niệm rằng những thành bại của nghề nương rẫy là do thần linh. Vì vậy, song song với việc canh tác nương rẫy, người Ê Đê còn tiến hành các lễ nghi nông nghiệp, tìm sự trợ giúp của thần linh với ước mong về mùa màng bội thu sung túc.
Canh tác nương rẫy theo kiểu luân canh đã hình thành cho ngưòi Ê Đê một thói quen di chuyển thường xuyên.