mở đầu quan trọng của dòng chảy văn hóa Hoa Hạ. Ở thời kỳ văn hóa Viêm Hoàng, tổ chức thị tộc đã phát triển, tiến tới hình thành nên liên minh bộ lạc và trao đổi hàng hóa. Chế độ tư hữu và sự phân hóa giai cấp cũng đã xuất hiện. Đây chính là giai đoạn quá độ từ công xã thị tộc sang thời kỳ đầu của xã hội có giai cấp, đó là thời kỳ chiếm hữu nô lệ của nhà Thương.
Sau đó, với sự thống nhất Trung Hoa của nhà Tần thì xã hội Trung Quốc bước vào thời kỳ phong kiến trung ương tập quyền. Từ đó trở đi, chế độ phong kiến quân chủ chuyên chế đã cai trị đất nước Trung Hoa trong suốt thời kỳ dài của lịch sử. So với những nền văn hóa cùng thời kỳ của thế giới thì ở thời kỳ văn hóa Ngưỡng Thiều của Trung Quốc đã có những bước tiến đáng kể. 17 Bước tiến quan trọng nhất chính là sự phát triển nền nông nghiệp do Viêm đế Thần Nông khai sáng.
Tượng trưng cho thời đại Thần Nông chính là những bước chuyển đổi từ thời đại săn bắt, hái lượm sang thời đại nông nghiệp. Có thể xem Thần Nông là đại biểu cho bước nhảy vọt của lực lượng sản xuất Trung Quốc cổ đại. Hình ảnh của Thần Nông là “thân người đầu trâu”, có lẽ trâu được xem là vật tổ của thị tộc Viêm đế vì trong thời đại nông nghiệp ấy, trâu được xem là con vật có sức mạnh và giúp ích nhiều nhất cho nhà nông7. Thần Nông đã giúp dân chế tác nông cụ, dạy dân canh tác, trồng dâu, nuôi tằm, làm ra nông sản phong phú, biết dệt tơ gai thành quần áo, phát minh ra đồ gốm giúp cho đời sống của nông dân thuận tiện hơn.
Điều này có thể được chứng minh bởi những đồ gốm màu và dụng cụ bằng đá đào được ở Bán Ba – Tây An thuộc di chỉ văn hóa Ngưỡng Thiều8. Ông còn cho mở chợ, sáng lập ra nơi buôn bán, trao đổi hàng hóa, về sau phát triển hưng thịnh thành các đô thị. Như vậy ngay từ thời xa xưa, thương nghiệp Trung Quốc đã manh nha phát triển. Trong thời đại của Thần Nông, không chỉ có nông nghiệp mà ngành y dược cũng đã được khai sáng.
Ông là người đầu tiên “nếm hàng trăm loại cây cỏ”, bắt đầu tìm ra dược liệu. Đặc trưng lớn nhất của thời đại Thần Nông chính là cả nông nghiệp và y dược đều được coi trọng như nhau. Điều này có tác dụng rất lớn đối với sự phồn vinh của dân tộc Hoa Hạ. Hình vẽ Viêm đế Thần Nông nếm cỏ Sử dụng thảo dược để trị bệnh để tìm ra dược liệu Nguồn: www.com/tea/history/images/shenlong.jpg 7 Nguyễn Tôn Nhan (2002), Bách khoa thư văn hóa cổ điển Trung Quốc, NXB Văn hóa – Thông tin, TP.
401 8 Dương Lực (2002), Sđd, tr. 320 18 Sau thời đại khai sáng nông nghiệp của Thần Nông là đến thời đại văn minh đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc: thời đại Hoàng đế. Hoàng đế không những là nhà phát minh sáng tạo. Ở thời kỳ này, hầu hết các lĩnh vực trồng dâu, nuôi tằm, chữ viết, thuyền bè, xe cộ… đều có sự phát triển chưa từng thấy trước đó, và điều này đã được ghi chép lại trong nhiều tài liệu cổ.
“Chu Dịch” có những ghi chép sớm nhất như sau: “Hoàng đế, Nghiêu, Thuấn buông áo mà thiên hạ đại trị, đẽo gỗ làm thuyền đi được đường xa mà làm lợi cho thiên hạ. Thuần dưỡng trâu, ngựa chở nặng đi xa cũng để làm lợi cho thiên hạ. Thời thượng cổ ăn lông ở lỗ, đời sau các thánh nhân đã dựng nên cung điện. Người chết khi đó được bao bọc bằng áo dày để mai táng, chôn ở giữa đồng; đời sau các thánh nhân đổi thành quan quách….
Thời thượng cổ tết dây mà trị thiên hạ, đời sau các thánh nhân thay bằng sách vở…” (Kinh dịch, Hệ từ. Sử thần của Hoàng đế là Thương Hiệt sáng tạo ra văn tự chữ viết. Hơn nữa, Hoàng đế và các triều thần còn là những người đầu tiên nghiên cứu xác định thiên văn lịch pháp. Ông chế tạo ra xe thuyền, phát minh ra cung thất, toán số, âm luật; lãnh đạo nhân dân tu sửa nhà cửa, nuôi gia súc, trồng ngũ cốc, trị thủy, tổ chức sinh hoạt, du ngoạn.
Thực ra thì những việc làm ấy không thể chỉ do một người trong một thời làm nên, nhưng truyền thống của Trung Quốc vốn có thói quen “tri công cho bậc thánh”, Hoàng đế lại là thủy tổ của dân tộc Hoa Hạ, đương nhiên nhiều công lớn được quy về cho ông10. Như vậy, nền văn minh thời đại Hoàng đế đã tiến thêm một bước, phát triển cao độ và toàn diện hơn so với thời đại Thần Nông. Đặc biệt, trên cơ sở coi trọng phát triển nông nghiệp và y dược của thời Thần Nông thì văn minh từ việc ăn ở, đi lại cho đến sống chết đều được nâng cao rõ rệt, và vì thế đã soáng tạo ra thời kỳ rực rỡ nhất trong cả giai đoạn văn hóa Viêm Hoàng Trung Quốc. Từ những câu chuyện được ghi chép trong các tài liệu cổ như thế, có thể thấy rằng đời sống của người Trung Quốc cổ xưa đã có sự phát triển rực rỡ.
Tuy đây chỉ là những câu chuyện truyền thuyết được hư cấu ít nhiều, song chúng vẫn được xây dựng dựa trên những điều có thật trong lịch sử. Do đó, chúng ta vẫn có 9 Dương Lực (2002), Sđd, tr. 325 10 Nguyễn Tôn Nhan (2002), tr. 399 19 thể nhìn nhận những thành tựu rực rỡ của nền văn minh Hoa Hạ thuở sơ khai, và rõ ràng nhờ đó mà đời sống của người Trung Quốc từ sớm đã sung túc, ấm no.
Những thành tựu đầu tiên của văn hóa Viêm Hoàng đã đặt nền móng cho sự tiến bộ của đời sống người Trung Quốc cổ về sau. Về nông nghiệp, vào thời Xuân Thu - Chiến Quốc đã phổ biến dùng trâu cày và về cơ bản đất đai đã được khai phá. Hình thái sở hữu đất đai cũng có nhiều thay đổi lớn. Chế độ sở hữu đất đai của xã hội thị tộc thời công xã nguyên thủy được thay thế bằng chế độ quốc hữu ruộng đất của quý tộc, chủ nô.
Nhất là vào thời Thương, ruộng đất chuyển sang thuộc sở hữu quốc gia, phân phối cho các cấp quý tộc, chủ nô sử dụng. Sau thời Chiến Quốc, chế độ ruộng đất chuyển sang chế độ sở hữu của địa chủ phong kiến và được áp dụng trong suốt thời kỳ phong kiến của Trung Quốc; tất nhiên ở mỗi giai đoạn có sự thay đổi nhất định về hình thức. Chế độ thuế khóa cũng đã được định hình và thay đổi theo từng thời kỳ lịch sử. Kỹ thuật canh tác cũng có nhiều tiến bộ rõ rệt như biết chế tạo nông cụ bằng sắt, sử dụng phân bón, áp dụng các biện pháp gieo trồng có hiệu quả….
Ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm cũng bắt đầu từ sớm. Ngay từ cuối thời kỳ đồ đá mới, người Trung Quốc đã thuần dưỡng được lục súc (ngựa, trâu, dê, lợn, chó, gà) và các loại gia cầm khác. Thời Tam đại Hạ - Thương – Chu, số lượng gia cầm, gia súc tăng lên rõ rệt, nhưng từ thời Xuân Thu - Chiến Quốc trở đi, chăn nuôi trở thành nghề phụ của nông dân. Ngành ngư nghiệp cũng đã ra đời từ thời kỳ Thương – Chu, nhất là nghề nuôi cá.
Do sự gia tăng của dân số nên nếu chỉ đánh bắt cá tôm như thời nguyên thủy thì không đủ để đáp ứng nhu cầu. Thời đại Xuân Thu - Chiến Quốc, nghề nuôi cá đã chiếm địa vị quan trọng trong nền kinh tế và từ thời Tần Hán trở đi thì trở nên hưng thịnh. Thuế sông ngòi, ao hồ do nhà nước thu được là một trong những nguồn tài chính quan trọng của quốc gia. Chính nhờ đạt được những thành quả khá tốt trong nông nghiệp như vậy nên đời sống nông dân nói chung tương đối ổn định.
Về thương nghiệp, ngay từ thời kỳ cuối của xã hội nguyên thủy thì đã bắt đầu manh nha xuất hiện. Hoạt động thương nghiệp cổ xưa nhất là sự trao đổi sản phẩm lấy sản phẩm giữa nơi có với nơi không. Đến thời Thương bắt đầu xuất hiện những thương nhân chuyên kinh doanh buôn bán hàng hóa. Vào thời Tây 20 Chu, thương nghiệp do quan lại, chủ nô lũng đoạn và đã lập ra chức quan chuyên môn để quản lý thị trường.
Thương nhân cũng như thở thủ công phần lớn đền phải phụ thuộc vào giới quý tộc, chủ nô, gọi là “công thương thực quan”. Họ kinh doanh và phục vụ chủ yếu vì nhu cầu của quý tộc. đến thời Xuân Thu, do sản phẩm trên thị trường tăng lên nên chế độ “công thương thực quan” không còn phù hợp nữa, thay vào đó là các thương nhân độc lập bắt đầu xuất hiện. từ đó trở về sau, thương nghiệp trở thành một trong những ngành nghề chính của người dân Trung Quốc cổ.
Mặc dù sau này có những thời kỳ thương nghiệp bị kìm hãm, nhưng vẫn không thể dập tắt được sự phát triển mạnh mẽ của nhu cầu thương nghiệp; do vậy thương nghiệp vẫn được xem là nghành nghề chủ đạo trong đời sống kinh tế thời cổ. Song song với sự phát triển của thương nghiệp thì thủ công nghiệp và giao thông vận tải cũng phát triển để phục vụ cho thương nghiệp. Quan hệ mua bán với bên ngoài lãnh thổ nhờ đó cũng bắt đầu xuất hiện, nhất là vào thời Tần. Thời ấy, tơ lụa và đồ sơn của Trung Quốc không chỉ thâm nhập vào khu vực miền nam bán đảo Triều Tiên mà còn đến với vùng Đông Dương.
Cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội trong nước thì quan hệ buôn bán với nước ngoài cũng được chú ý phát triển. Do sự phát triển kinh tế tương đối tốt nên đời sống xã hội của người dân Trung Quốc cổ nhìn chung là ổn định. Họ có cuộc sống tương đối nhàn hạ, được hưởng nhiều thành quả từ sức lao động của mình nên được ăn no mặc ấm. So với nhân dân các thời kỳ sau thì người dân Trung Quốc thời kỳ này có cuộc sống bình yên, hạnh phúc hơn do không phải chịu nhiều áp lực từ chế độ thống trị phong kiến hà khắc với các loại hình tô thuế nặng nề, phu phen phục dịch.
Do vậy, họ chỉ biết tập trung vào sản xuất, canh tác và phát huy khả năng sáng tạo của mình, góp phần tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển kinh tế, xã hội sau này. Đời sống tinh thần Cuộc sống canh tác nông nghiệp tương đối nhàn hạ khiến người Trung Quốc cổ có nhiều thời gian cho việc vui chơi, giải trí mà điển hình là sự xuất hiện của ngày tết truyền thống.