Bài Thuyết Trình Về Ngữ Pháp Tạo Sinh

Chuyên khảo phân tích Bài thuyết trình ngữ pháp tạo sinh, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo., phục vụ nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Trường đại học

Trường Đại Học Sài Gòn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

bài thuyết trình

2022

65
5
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khám Phá Ngữ Pháp Tạo Sinh

Bài viết phân tích chuyên sâu về Ngữ pháp tạo sinh, một trường phái ngôn ngữ học quan trọng được khởi xướng bởi Noam Chomsky. Trọng tâm của bài viết nằm ở việc phân tích quá trình hình thành và phát triển của ngữ pháp tạo sinh qua các giai đoạn, đồng thời khám phá những lý thuyết ngôn ngữ học chủ chốt đã định hình nên trường phái này.

1.1. Quá Trình Hình Thành

Ngữ pháp tạo sinh ra đời từ cuối những năm 1950, đánh dấu bằng công trình "Syntactic Structures" (1957) của Noam Chomsky. Trường phái này tập trung vào việc nghiên cứu ngữ năng, tức khả năng ngôn ngữ bẩm sinh của con người, thay vì chỉ miêu tả cấu trúc bề mặt của ngôn ngữ. Ngữ pháp tạo sinh cho rằng ngôn ngữ được hình thành dựa trên một tập hợp các quy tắc và nguyên tắc bẩm sinh, gọi là "Ngữ pháp phổ quát".

1.2. Các Mô Hình Ngôn Ngữ

Bài viết đi sâu phân tích hai mô hình ngôn ngữ chính trong ngữ pháp tạo sinh. Mô hình ngôn ngữ thứ nhất, với ngữ pháp cải biến, cho rằng con người tạo ra các câu phức tạp từ các câu đơn giản thông qua các quy tắc. Mô hình thứ hai, Lý thuyết Chuẩn, thay thế câu lõi bằng cấu trúc sâu và bổ sung ngữ nghĩa học thuyết giải, nhấn mạnh vai trò của cấu trúc ngữ pháp trong việc giải thích ngữ nghĩa.

1.3. Các Lý Thuyết Nâng Cao

Bài viết tiếp tục khám phá các lý thuyết nâng cao hơn như Ngữ nghĩa học tạo sinh, Lý thuyết Chuẩn mở rộng và Lý thuyết Chuẩn mở rộng có điều chỉnh. Các lý thuyết này tập trung vào việc giải thích ngữ nghĩa, sự tạo sinh ngôn ngữ và vai trò của ngữ nghĩa trong quá trình đó.

01/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN BÀI THUYẾT TRÌNH NGỮ PHÁP TẠO SINH Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 11 năm 2022 Thành viên và nhiệm vụ STT Họ và tên Nhiệm vụ 1 Tôn Nữ Diễm Kiều Tìm kiếm tài liệu, hiệu chỉnh nội dung, góp ý nội dung, in ấn 2 Châu Thị Đỗ Quyên Tìm kiếm tài liệu, hiệu chỉnh nội dung, góp ý nội dung, in ấn 3 Danh Minh Phụng Thuyết trình, soạn slide thuyết trình, biên soạn cấu trúc và nội dung, hiệu chỉnh nội dung, góp ý nội dung 4 Tô Quốc Minh Huân Thuyết trình, soạn slide thuyết trình, biên soạn cấu trúc và nội dung, hiệu chỉnh nội dung, góp ý nội dung MỤC LỤC 1. Giới thiệu chung về Trường phái ngữ pháp tạo sinh 1 a. Quá trình hình thành 1 b. Lý thuyết ngôn ngữ học của Trường phái ngữ pháp tạo sinh 4 a.

Mô hình ngôn ngữ thứ nhất 4 b. Ngữ nghĩa học tạo sinh 10 d. Lý thuyết chuẩn mở rộng và Lý thuyết chuẩn mở rộng có điều chỉnh 11 3. Triết học tiếp cận 18 a.

Cơ sở triết học của ngôn ngữ học tạo sinh 18 b. Nhận thức luận của ngôn ngữ học tạo sinh 18 4. Kết luận 19 Tài liệu tham khảo 20 1 1. Giới thiệu chung về Trường phái ngữ pháp tạo sinh a.

Quá trình hình thành Noam Chomsky (sinh 1928) là một nhà ngôn ngữ học, triết học, nhà khoa học tri nhận người Mỹ gốc Do Thái. Ông từng là giáo sư tại Đại học Arizona và Viện công nghệ Massachusetts. Các công trình nghiên cứu ngôn ngữ học đã được xuất bản của ông bao gồm: - Syntactic Structures (1957) - Current Issues in Linguistic Theory (1964) - Aspects of the Theory of Syntax (1965) - Cartesian Linguistics (1965) - Language and Mind (1968) - The Sound Pattern of English (1968) - Reflections on Language (1975) - Lectures on Government and Binding (1981) - The Minimalist Program (1995) Từ cuối những năm 1950, Noam Chomsky đã đặt nền móng đầu tiên cho lý thuyết ngữ pháp tạo sinh hay ngôn ngữ học tạo sinh bằng công trình Syntactic Structures (1957) và hình thành lý thuyết chuẩn với công trình Aspects of the Theory of Syntax (1965). Đặc điểm Theo quan điểm của Nguyễn Thiện Giáp (2011), lý thuyết ngữ pháp tạo sinh của Noam Chomsky được phát triển qua ba giai đoạn (Hình 1).

Bảng 1: Các giai đoạn phát triển của lý thuyết ngữ pháp tạo sinh Tên giai đoạn Thời gian Công trình Mô hình ngôn ngữ thứ nhất 1957-1965 Syntactic structures (The First linguistic model) 2 Tên giai đoạn Thời gian Công trình Lý thuyết chuẩn 1965-1970 Aspects of the6 T-heory of Syntax (Standard theory) Lý thuyết chuẩn mở rộng 1970- nay Reflections on Language (Extended standard theory) Rules and Representations Lý thuyết chuẩn mở rộng Lectures on Government and Binding có điều chỉnh The Minimalist Program (Revised extended standard theory) Khác với cách tiếp cận ngôn ngữ học cấu trúc, các nhà ngôn ngữ học tạo sinh cố tìm câu trả lời cho câu hỏi “Tại sao con người lại có khả năng ngôn ngữ?”. Họ cho rằng ngôn ngữ của con người được định hình bởi một tập hợp các nguyên tắc cơ bản vốn là một phần của bộ não con người. Các nguyên tắc cơ bản gọi là "Ngữ pháp phổ quát" (Universal grammar) này, theo các nhà ngôn ngữ học như Chomsky, đến từ khả năng ngôn ngữ bẩm sinh của con người. Nếu như ngữ pháp định chuẩn (Prescriptive grammar) là để chuẩn hóa các quy luật ngữ pháp, thì ngữ pháp mô tả (Descriptive grammar) là để miêu tả ngôn ngữ đang được sử dụng như thế nào.

Thì ngữ pháp tạo sinh là để tìm hiểu các nguyên tắc cơ bản làm cho ngôn ngữ có thể tồn tại trong thế giới loài người. Vì vậy, các nhà nghiên cứu thuộc trường phái này không đi miêu tả các hệ thống của ngôn ngữ như ngữ âm, âm vị, cú pháp, hình thái, ngữ nghĩa … mà họ tập trung vào việc phân tích cách bộ não của con người học ngôn ngữ. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu ngữ pháp tạo sinh sẽ tập trung vào trẻ nhỏ, do quá trình học ngôn ngữ ở trường lớp sau này là một quá trình có nhận thức, một quá trình tri nhận. Như vậy bản chất đối tượng nghiên cứu của trường phái tạo sinh là ngữ năng (Competence) không phải lời nói hay 3 hành vi ngôn ngữ.

Ngữ năng là hình thức hóa năng lực ngôn ngữ. Vì thế ngôn ngữ học tạo sinh là sự mô hình hóa của năng lực ngôn ngữ Các nhà nghiên cứu thuộc trường phái này đặt ra câu hỏi “Tại sao trẻ em có thể nói và hiểu các câu mới trong khi chỉ tiếp nhận số lượng câu nhất định?”. Thông qua câu hỏi này, các nhà nghiên cứu ngữ pháp tạo sinh đã phản bác quan điểm chủ nghĩa hành vi cho rằng ngôn ngữ sinh ra do các tác nhân kích thích. Từ quan điểm trên, ở quyển Các cấu trúc ngữ pháp, Noam Chomsky cho rằng con người tiếp thu các câu lõi (Kernel sentence), thường là các câu đơn, chủ động và mang tính khẳng định.

Con người tạo ra các câu phái sinh trên nền tảng các câu lõi này như câu phủ định, câu nghi vấn, câu bị động,. bằng các quy tắc cải biến. Đây là nền tảng của ngữ pháp cải biến (Transformational grammar). Từ lý thuyết chuẩn, các câu lõi dần được thay thế bằng cấu trúc sâu (deep structure).

Từ vựng (Lexicon) và Quy tắc cấu trúc đoản ngữ (Phrase structure rules) là những yếu tố tác động trực tiếp đến cấu trúc sâu, từ đó sẽ tuân theo các Quy tắc phóng chiếu để đạt Sự biểu hiện ngữ nghĩa (Semantic representation) hoặc Các quy tắc cải biến để biểu hiện thành cấu trúc mặt. Từ cấu trúc mặt sẽ tuân theo Quy tắc âm vị để sản sinh ra các chuỗi âm vị. Về sau Lý thuyết chuẩn được bổ sung và phát triển thành lý thuyết chuẩn mở rộng và lý thuyết chuẩn mở rộng có điều chỉnh. Trong đó các lý thuyết được phát triển, bổ sung như Ngữ pháp cốt lõi (Core grammar), Lý thuyết vết (Trace theory), Chuyển di α (move-α), Tham biến (Parameter), Lý thuyết chi phối và ràng buộc (Government and binding), Lý thuyết X-bar, Lý thuyết Theta (Theta theory), Nguyên lý phóng chiếu (Projection principle), Lý thuyết cách (Case theory), Lý thuyết kiểm định (Control theory) … Nguyễn Thiện Giáp (2011) còn cho rằng quá trình phát triển của lý thuyết trên còn thể hiện qua sự biến đổi nhan đề, cụ thể như sau: 4 Hình 1: Quá trình biến đổi của lý thuyết ngữ pháp tạo sinh qua nhan đề 2.

Lý thuyết ngôn ngữ học của Trường phái ngữ pháp tạo sinh a. Mô hình ngôn ngữ thứ nhất Ở mô hình ngôn ngữ thứ nhất, câu lõi (chủ động, câu đơn, trần thuật, khẳng định) sẽ phái sinh thành các câu hỏi, câu phủ định qua các thao tác cải biến không bắt buộc. Các câu phức cũng được tạo ra từ sự cải biến khái quát hóa. Trong đó thành tố là các câu đơn.

Sampson (1980) đã cho ví dụ giải thích về câu lõi và quy tắc cải biến của Noam Chomsky. Ông đã đưa ra các quy tắc cải biến theo hình thức hồi quy cho các từ, đoản ngữ có thể đứng trước đoản ngữ vị từ của câu “______ is on the mat”, cụ thể được liệt kê trong hình 2: Hình 2: Ví dụ của Sampson (1980) về quy tắc cải biến 5 Trong đó nhóm N bao gồm các từ như cat, dog, boy, tail, … và cụm danh từ A N. Nhóm A bao gồm các tính từ như good, bad, gigantic … dùng bổ nghĩa cho nhóm N tạo thành A N. Nhóm R bao gồm the, a, some … nhóm này có thể đứng trước nhóm N.

Nhóm P bao gồm các tên riêng như John, Mary …, nhóm R N, và nhóm P L. Trong đó nhóm L được hình thành từ tổ hợp W V -s và E P. Trong đó: - W: các đại từ quan hệ như What, Who, Whom, Whose … - V: các nội động từ - -s: Hình vị ngôi thứ 3 số ít - E: từ with Cuối cùng là S tổ hợp của P V -s. Các nhóm trên thực chất là các quy tắc cấu thành với đầu tiên là S sau đó có thể phân tích thành các thành tố nhỏ hơn.

Các thành tổ này có thể bao gồm nhiều phạm trù. Như vậy “The cat is on the mat” có thể mở rộng thành một số câu phái sinh, cụ thể như sau: - The cat is on the mat 6 - The dog with a big tail is on the mat - The boy who snores is on the mat Cách phân tích của này giúp nhận diện được các câu lõi là câu “The cat is on the mat”. Từ đó các câu phái sinh sẽ được tạo sinh thông qua các một số quy tắc cải biến như ở hình 2. Các quy tắc còn có thể được đại diện bởi nhiều cụm như NP (cụm danh từ), VP (cụm động từ), PP (cụm giới từ).

Lý thuyết chuẩn Noam Chomsky cho rằng người bản ngữ, dựa trên sự hiểu biết trực giác các quy tắc ngôn ngữ, có thể quyết định câu nói là đúng hay sai ngữ pháp qua các bài kiểm tra phân tích ngữ pháp (Grammaticality judgment task). Qua các bài kiểm tra này, các câu sẽ 7 được người tham gia quyết định là đúng ngữ pháp (Grammatical) hay phi ngữ pháp (Ungrammatical): Ví dụ: - The cat is on the mat (đúng ngữ pháp) - Mat the on is cat the (phi ngữ pháp) Sampson (1980) cho rằng việc quyết định phân tích ngữ pháp của Noam Chomsky tương tự như việc các điểm nằm trong vòng tròn hay nằm ngoài vòng tròn. Các câu nằm trong vòng tròn là đúng ngữ pháp, các câu nằm ngoài là phi ngữ pháp. Đây chính là tính ngữ pháp.

Lý thuyết chuẩn loại bỏ câu lõi và thay thế bằng cấu trúc sâu. Ở giai đoạn này, ngữ pháp cải biến của Noam Chomsky có các bình diện: Cấu trúc mặt, cấu trúc sâu. Trong đó cấu trúc mặt thuộc về bình diện ngữ âm, cấu trúc sâu thuộc về ngữ nghĩa. Cấu trúc mặt rất đa dạng và có thể tương đồng, có thể lưỡng nghĩa, đồng nghĩa.

Thông tin có thể không biểu hiện ở cấu trúc mặt mà được hiểu bởi người nghe. Về cấu trúc sâu, các câu lõi ở mô hình ngôn ngữ thứ nhất bị thay thế bởi cấu trúc sâu ở lý thuyết chuẩn. Cấu trúc sâu chỉ rõ quan hệ ngữ pháp và các chức năng của yếu tố cú pháp, những thông tin quan trọng của cải biến. Các quy tắc cấu trúc đoản ngữ là các quy tắc hồi quy được trình bày như những quy tắc cải biến được đề cập ở mô hình ngôn ngữ thứ nhất.

Các quy tắc này thường có dạng thức A ➔ X1 … Xn. Ví dụ: S ➔ NP + VP Câu được hình thành từ đoản ngữ danh từ và đoản ngữ vị từ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Khám Phá Ngữ Pháp Tạo Sinh" mang đến cái nhìn sâu sắc về ngữ pháp tạo sinh, một lĩnh vực quan trọng trong ngôn ngữ học. Tác giả phân tích các khái niệm cơ bản và ứng dụng của ngữ pháp tạo sinh trong việc hiểu và tạo ra ngôn ngữ. Bài viết không chỉ giúp người đọc nắm bắt được các nguyên tắc ngữ pháp mà còn mở ra những cách tiếp cận mới trong việc nghiên cứu ngôn ngữ.

Để mở rộng thêm kiến thức của bạn về ngữ pháp và cấu trúc ngôn ngữ, bạn có thể tham khảo bài viết Luận văn thạc sĩ so sánh cấu trúc động ngữ tiếng bồ đào nha và động ngữ tiếng việt hiện đại 60 22 02 40, nơi bạn sẽ tìm thấy sự so sánh thú vị giữa hai ngôn ngữ. Ngoài ra, bài viết Luận văn thạc sĩ kính ngữ và các phương thức biểu hiện của nó trong tiếng hàn hiện đại sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về cách thức biểu đạt trong một ngôn ngữ khác. Cuối cùng, bài viết Luận văn thạc sĩ nominalization as grammatical metaphor in political discourse in english and vietnamese from the perspective of systemic functional grammar sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn sâu sắc về cách thức sử dụng ngữ pháp trong diễn ngôn chính trị. Những tài liệu này sẽ là nguồn tài nguyên quý giá để bạn khám phá thêm về ngữ pháp và ngôn ngữ học.