Chương 1: Cơ sở lý thuyết Chương 2: Cấu trúc của động ngữ tiếng Bồ Đào Nha hiện đại Chương 3: Cấu trúc của động ngữ tiếng Việt hiện đại Chương 4: So sánh đối chiếu động ngữ tiếng Bồ Đào Nha và động ngữ tiếng Việt hiện đại 13 CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ THUYET 1. Khái niệm đoản ngữtrong tiếng Bồ Đào Nha và tiếng Việt Trước khi đi vào van đề động ngữ (verb phrasetrong tiếng Anh, sintagma verbal trong tiếng Bồ Đào Nha), một kiểu loại cụ thể của đoản ngữ, chúng tôi thấy cần nhắc lại một số điểm lý luận về đoản ngữ nói chung.“Doan ngữ” (Phrase/ sintagma) là một trong những đơn vị cú pháp có cấu trúc phức tap,tan số sử dụng cao, kết cấu nội tại của chúng cótính cân xứng. Nguyễn Tài Cần (1975: 148) cho rằngđoản ngữ là một loại tô hợp tự do, kết hợp theo quan hệ chính phụ bao gồmmột trung tâm nối liền với các thành tố phụ bằng quan hệ chính phụ. Ví dụ: hoa vàng.
Đây là trường hợp có một trung tâm đứng làm nòng cốt và bên cạnh ghép thêm một hay một vài thành tố có vai trò thứ yếu, dùng dé bổ sung cho trung tâm. Ở trong hệ thống các tổ hợp tự do, đoản ngữ chiếm một vị trí riêng biệt,có các đặc điểm sau: - Gồm một thành tố trung tâm và một hay một số thành tố phụ quây quần xung quanh trung tâm đó đề bổ sung thêm một số chỉ tiết thứ yếu về mặt ý nghĩa. Ví dụ: + hoa vàng + bông hoa vàng đó + tất cả những bông hoa vàngđó- Quan hệ giữa trung tâm và thành tố phụ có nhiều kiểu loại chỉ tiết rất khác nhau, nhưng nói chung đều thuộc vào loại quan hệ chính phụ. - Toàn đoản ngữ có tổ chức phức tạp hơn, có ý nghĩa đầy đủ hơn một mình trung tâm nhưng nó vẫn giữ được các đặc trưng ngữ pháp của trung tâm: + Trung tâm thuộc vao từ loại nao thì toàn đoản ngữ cũng vẫn giữ các đặc trưng của từ loại đó.
Vì vậy có thé căn cứ vào trung tâm dé phân loại đoản ngữ thành đoản ngữ của danh từ (danh ngữ), đoản ngữ của động từ (động ngữ), đoản ngữ của tính từ (tính ngũ) v. + Trung tâm có thé giữ một chức vụ gì trong một tổ hợp khác thì toàn đoản ngữ thường thường cũng có thể đảm nhiệm được các chức vụ đó. Nói cách khác, đoản ngữ chưa gắn liền với một chức vụ nào cho sẵn, nhất định. Vì vậy có thê tách riêng đoản ngữ ra mà nghiên cứu một cách độc lập với chức năng cú pháp.
14 TheoDiệp Quang Ban (2005) vàcác tác giả cuốn Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt (2003) thì, mặc dù phát biểu cáchnào, điều cốt lõi về đoản ngữ cũng đều là “Một nhóm những từ có liên hệ trực tiếp với nhau trong một câu gọi là tổ hợp từ. Xét theo mối quan hệ giữa các bộ phận cau thành tô hợp từ, người ta phân biệt tổ hợp từ có quan hệ chủ vị, tô hợp từ có quan hệ bình đắng, tổ hợp từ có quan hệ chính phụ. Loại tổ hợp từ thứ ba này gọi là đoản ngữ.” “Tổ chức chung của đoản ngữ có ba phần: phần trung tâm, phần phụ trước, phần phụ sau”. Quan điểm này thực chất cũng trùng với quan điểm của Nguyễn Tài Can đã trình bày ở trên.
Theo các nhà nghiên cứu ngôn ngữ của Bồ Đào Nha như Alvaro Gomes (2007: 28) thì đoản ngữ trong tiếng Bồ Dao Nha cũng là những nhân tố quan trọng dé hình thành nên các câu. Mỗi đoản ngữ có một hạt nhân và từ loại của thành tố nhân là yếu tô quyết định từ loại của đoản ngữ. Khi xem xét từ loại trong tiếng Bồ Đào Nhavà các đoản ngữ có chúng làm trung tâm,các nhà nghiên cứu đã phân loại đoản ngữ tiếng Bồ Đào Nha thành các loại danh ngữ, động ngữ, tính ngữ, giới ngữ với các từ trung tâm tương ứng là danh từ, động từ, tính từ, giới từ. (Maria Helena Mira Mateus, 2003:328) Tiếng Bồ Đào Nha là một ngôn ngữ biến hình.
Trong đoản ngữ nói riêng, trong câu nói chung, từ có biến đổi hình thái. Như vậy, những so sánh sơ lược trên có thể cho thấy thành tố trung tâm của danh ngữ, động ngữ, tính ngữ trong cả tiếng Việt và tiếng Bồ Đào Nhađều đứng ở giữa đoản ngữ và do danh từ, động từ, tính từ đảm nhiệm, nhưng có điều trật tự của một số thành phần phụ trong đoản ngữ của haingôn ngữnày có những diémkhac nhau. Có thé tóm tắt sơ lược bằng sơ đồ sau: Doan ngữ tiếng Bồ Dao Nha: TTPT TTTT TTPS Danh ngữ esta (này) mesa (cái bàn) Danh ngữ camisa (áo) nova (mới) Động ngữ ainda (vẫn) come (ăn) Động ngữ vem (đến) Já (ngay) 15 Doan ngữ tiếng Việt: TTPT TTTT TTPS Danh ngữ cái bàn này Danh ngữ áo mới Động ngữ van an Động ngữ van chưa làm bài Động ngữ còn đang ăn cơm Các nhà ngôn ngữ học cũng thống nhất về hai đặc điểm của đoản ngữ: + Có thé căn cứ vào trung tâm dé phân loại đoản ngữ thành đoản ngữ của danh từ (gọi làdanh ngữ), đoản ngữ của động từ (gọi làđộng ngữ), đoản ngữ của tính từ (gọi latinh ngữ). + Trung tâm có thể giữ một chức vụ gì trong một tổ hợp khác thì toàn đoản ngữ thường thường cũng có thê đảm nhiệm được các chức vụ đó.
Khái niệm động ngữ trong tiếng Bồ Đào Nhavà trong tiếng Việt Động ngữ là một trong những đơn vị phân tích ngữ pháp cơ bản trong mọi ngôn ngữ và cũng là đơn vịphức tạp nhất, được sử dụng rộng rãi nhất trong các ngôn ngữ. Đặc biệt với tiếng Bồ Đào Nha, động từ được chia theo từng ngôi, từng thời, thể rất rõ ràng, cụ thể, vì vậy, các câu trong tiếng Bồ Đào Nha được phép bỏ chủ ngữ. Đề khảo sát các thành tố trong cấu trúc của động ngữtiếng Bồ Đào Nha và so sánh nó với các thành tố trong cấu trúc của động ngữ tiếng Việt thì điều trước tiên là phải xác lập một cách hiéu chung vê khái niệm “động ngữ”. Khái niệm động ngữ trong tiếng Bồ Đào Nha Khi nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Bồ Đào Nha, Alvaro Gomes (2007: 29) cho rằng “Động ngữ là một trong những cấu trúc cơ bản của câu, trong đó có hạt nhân là động từ.
Động từ là những từ có thay đôi nhiều nhất trong tiếng Bồ Đào Nha vì nó biến đồi theo ngôi (thứ nhất, thứ hai, thứ ba), theo số (it, nhiều), theo thời (quá khứ, 16 hiện tại, tương lai), theo dạng (chủ động, bị động) hoặc theo thức (chỉ định, giả định, điều kiện, nguyên thể, mệnh lệnh)” Vânia Maria do Nascimento Duarte (2012) thì cho răng động ngữ là cụm từ luôn có thành tố trung tâm là động từ, động từ này có thể đứng trước một danh ngữ, tính ngữ hoặc giới ngữ. Celso Cunha (2008:137) cũng nghiên cứu về động ngữ và quan điểm của ông là động ngữ làm nên vị ngữ của câu, hạt nhân của động ngữ là một động từ và xung quanh hạt nhân đó có các thành tố phụ. Theo quan điểm của các tác giả sách Ngữ pháp tiếng Bồ Đào Nha, trong tiếng Bồ Đào Nha, động ngữ (tiéng Bỏ Đào Nha: sintagma verbal) bao gồm hạt nhân là một động từ và có các thành phần phụ đứng trước và sau động từ (Maria Helena, 2003:403). Động từ trong các ngôn ngữ biến hìnhđược nhận biết nhờ những phụ tố đặc trưng cho chúng và nhờ khả năng biến dạng theo ngôi, thời, dạng, thức, tiếng Bồ Dao Nha cũng vậy.
Trong các ngôn ngữ không biến hình như tiếng Việt thì “tiêu chí nhận diện động từ là khả năng làm trung tâm một loại cụm từ chính - phụ (động ngữ)” (Nguyễn Thiện Giáp, 1995: 245). Ví dụ: Tôi muốn học tiếng Bồ Đào Nha. Trong ví dụ trên của tiếng Việt, muốn học tiếng Bồ Đào Nha là một động ngữ gồm động từ uốn là thành tổ chính - thành tố trung tâm, còn học tiéng Bồ Đào Nha là thành tố phụ. Và trong bản thân thành tố phụ ấy cũng là một động ngữ với động từ hoc là thành tô chính, tiếng Bo Đào Nha là thành tố phụ.
Xét trong tiếng Bồ Đào Nha chúng tôicũng nhận thấy cấu trúc tương tự như vậy. Vi dụ: Vi dụ (Eu) quero aprender Português Nghĩa (Tôi) muốn học tiếng Bồ Đào Nha Ở động ngữ quero aprender português (muốn học tiếng Bồ Dao Nha) (Alvaro Gomes, 2007: 30) quan hệ kết hợp các từ như sau: 17 - quero (muốn- động từ nguyên thé là querer và hình thức quero là được chia cho ngôi eu (tôi) ở thì hiện tai) - aprender (học- động từ nguyên thé do đứng sau động từ querer) português (tiếng Bồ Đào Nha). Như vậy, động từ guero (muốn) là thành tô chính, aprender português (học tiếng Bồ Đào Nha) là thành tố phụ. Và thành tố phụ đó cũng là một động ngttaprender (học) là thành tố chính, còn portugués (tiếng BO Đào Nha) là thành tố phụ.
Ta hãy xem thêm các ví dụ sau: Tiếng Bồ Đào Nha Động ngữ Eu vou comprar esta casa Nghia Tôi sé mua nay nha Thanh phan TTPT TTTT TTPS Tiếng Việt Động ngữ Tôi sé mua căn nha nay Thanh phan TTPT TTTT TTPS 1. Khái niệm động ngữ trong tiếng Việt Trong tiếng Việt, động ngữ cũng là một đề tài được giới nghiên cứu rất chú ý từ trước đến nay. Không có một sách ngữ pháp nào không đề cập đến vấn đề động ngữ và danh ngữ. “Động ngữ chính là đoản ngữ có động từ làm trung tâm.”(Nguyễn Tài Can,1975: 247) Theo Diệp Quang Ban (1992: 62) “Cụm động từ là tổ hop từ tự do không có kết từ đứng đầu, có quan hệ chính phụ giữa thành tổ chính với thành tố phụ, và thành tố chính là động từ.
Cấu tạo chúng của động từ gồm ba phần: phần trung tâm, phần phụ trước và phần phụ sau”. Còn theo các tác giả cuốn Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt (Mai Ngoc Chu, 2003: 280) “Động ngữ là nhóm từ chính phụ có động từ làm thành tố chính.” 18 Diệp Quang Ban(2005:447)cho rằng của “Xét theo khả năng xuất hiện của các yếu tố trong cụm từ, cấu tạo chung của cụm động từ gồm có ba phần: phần đầu tố và các phó từ đứng trước đầu tố, các phó từ đứng sau đầu tố.” Ví dụ: đã ăn rôi Phó từ đứng trước Đầu tổ Phó từ đứng sau đã ăn roi Như vậy, qua tổng hợp các nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học Bồ Dao Nha và Việt Nam, chúng tôi thấy có thé phát biéu khái quát về động ngữ như sau: Động ngữ là một ngữ đoạn/ đoản ngữđược tô chức theo quan hệ ngữ pháp chính phụ mà động từ giữ chức năng là thành tố chính, thành tố trung tâm.