CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Khái niệm đoản ngữtrong tiếng Bồ Đào Nha và tiếng Việt Trước khi đi vào vấn đề động ngữ (verb phrasetrong tiếng Anh, sintagma verbal trong tiếng Bồ Đào Nha), một kiểu loại cụ thể của đoản ngữ, chúng tôi thấy cần nhắc lại một số điểm lý luận về đoản ngữ nói chung.“Đoản ngữ” (Phrase/ sintagma) là một trong những đơn vị cú pháp có cấu trúc phức tạp,tần số sử dụng cao, kết cấu nội tại của chúng cótính cân xứng. Nguyễn Tài Cẩn (1975: 148) cho rằngđoản ngữ là một loại tổ hợp tự do, kết hợp theo quan hệ chính phụ bao gồmmột trung tâm nối liền với các thành tố phụ bằng quan hệ chính phụ. Ví dụ: hoa vàng.
Đây là trường hợp có một trung tâm đứng làm nòng cốt và bên cạnh ghép thêm một hay một vài thành tố có vai trò thứ yếu, dùng để bổ sung cho trung tâm. Ở trong hệ thống các tổ hợp tự do, đoản ngữ chiếm một vị trí riêng biệt,có các đặc điểm sau: - Gồm một thành tố trung tâm và một hay một số thành tố phụ quây quần xung quanh trung tâm đó để bổ sung thêm một số chi tiết thứ yếu về mặt ý nghĩa. Ví dụ: + hoa vàng + bông hoa vàng đó + tất cả những bông hoa vàngđó- Quan hệ giữa trung tâm và thành tố phụ có nhiều kiểu loại chi tiết rất khác nhau, nhưng nói chung đều thuộc vào loại quan hệ chính phụ. - Toàn đoản ngữ có tổ chức phức tạp hơn, có ý nghĩa đầy đủ hơn một mình trung tâm nhưng nó vẫn giữ được các đặc trưng ngữ pháp của trung tâm: + Trung tâm thuộc vào từ loại nào thì toàn đoản ngữ cũng vẫn giữ các đặc trưng của từ loại đó.
Vì vậy có thể căn cứ vào trung tâm để phân loại đoản ngữ thành đoản ngữ của danh từ (danh ngữ), đoản ngữ của động từ (động ngữ), đoản ngữ của tính từ (tính ngữ) v. + Trung tâm có thể giữ một chức vụ gì trong một tổ hợp khác thì toàn đoản ngữ thường thường cũng có thể đảm nhiệm được các chức vụ đó. Nói cách khác, đoản ngữ chưa gắn liền với một chức vụ nào cho sẵn, nhất định. Vì vậy có thể tách riêng đoản ngữ ra mà nghiên cứu một cách độc lập với chức năng cú pháp.
14 z TheoDiệp Quang Ban (2005) vàcác tác giả cuốn Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt (2003) thì, mặc dù phát biểu cáchnào, điều cốt lõi về đoản ngữ cũng đều là “Một nhóm những từ có liên hệ trực tiếp với nhau trong một câu gọi là tổ hợp từ. Xét theo mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành tổ hợp từ, người ta phân biệt tổ hợp từ có quan hệ chủ vị, tổ hợp từ có quan hệ bình đẳng, tổ hợp từ có quan hệ chính phụ. Loại tổ hợp từ thứ ba này gọi là đoản ngữ.” “Tổ chức chung của đoản ngữ có ba phần: phần trung tâm, phần phụ trước, phần phụ sau”. Quan điểm này thực chất cũng trùng với quan điểm của Nguyễn Tài Cẩn đã trình bày ở trên.
Theo các nhà nghiên cứu ngôn ngữ của Bồ Đào Nha như Álvaro Gomes (2007: 28) thì đoản ngữ trong tiếng Bồ Đào Nha cũng là những nhân tố quan trọng để hình thành nên các câu. Mỗi đoản ngữ có một hạt nhân và từ loại của thành tố nhân là yếu tố quyết định từ loại của đoản ngữ. Khi xem xét từ loại trong tiếng Bồ Đào Nhavà các đoản ngữ có chúng làm trung tâm,các nhà nghiên cứu đã phân loại đoản ngữ tiếng Bồ Đào Nha thành các loại danh ngữ, động ngữ, tính ngữ, giới ngữ với các từ trung tâm tương ứng là danh từ, động từ, tính từ, giới từ. (Maria Helena Mira Mateus, 2003:328) Tiếng Bồ Đào Nha là một ngôn ngữ biến hình.
Trong đoản ngữ nói riêng, trong câu nói chung, từ có biến đổi hình thái. Như vậy, những so sánh sơ lược trên có thể cho thấy thành tố trung tâm của danh ngữ, động ngữ, tính ngữ trong cả tiếng Việt và tiếng Bồ Đào Nhađều đứng ở giữa đoản ngữ và do danh từ, động từ, tính từ đảm nhiệm, nhưng có điều trật tự của một số thành phần phụ trong đoản ngữ của haingôn ngữnày có những điểmkhác nhau. Có thể tóm tắt sơ lược bằng sơ đồ sau: Đoản ngữ tiếng Bồ Đào Nha: TTPT TTTT TTPS Danh ngữ esta (này) mesa (cái bàn) Danh ngữ camisa (áo) nova (mới) Động ngữ ainda (vẫn) come (ăn) Động ngữ vem (đến) já (ngay) 15 z Đoản ngữ tiếng Việt: TTPT TTTT TTPS Danh ngữ cái bàn này Danh ngữ áo mới Động ngữ vẫn ăn Động ngữ vẫn chưa làm bài Động ngữ còn đang ăn cơm Các nhà ngôn ngữ học cũng thống nhất về hai đặc điểm của đoản ngữ: + Có thể căn cứ vào trung tâm để phân loại đoản ngữ thành đoản ngữ của danh từ (gọi làdanh ngữ), đoản ngữ của động từ (gọi làđộng ngữ), đoản ngữ của tính từ (gọi làtính ngữ)… + Trung tâm có thể giữ một chức vụ gì trong một tổ hợp khác thì toàn đoản ngữ thường thường cũng có thể đảm nhiệm được các chức vụ đó. Khái niệm động ngữ trong tiếng Bồ Đào Nhavà trong tiếng Việt Động ngữ là một trong những đơn vị phân tích ngữ pháp cơ bản trong mọi ngôn ngữ và cũng là đơn vịphức tạp nhất, được sử dụng rộng rãi nhất trong các ngôn ngữ.
Đặc biệt với tiếng Bồ Đào Nha, động từ được chia theo từng ngôi, từng thời, thể rất rõ ràng, cụ thể, vì vậy, các câu trong tiếng Bồ Đào Nha được phép bỏ chủ ngữ. Để khảo sát các thành tố trong cấu trúc của động ngữtiếng Bồ Đào Nha và so sánh nó với các thành tố trong cấu trúc của động ngữ tiếng Việt thì điều trước tiên là phải xác lập một cách hiểu chung về khái niệm “động ngữ”. Khái niệm động ngữ trong tiếng Bồ Đào Nha Khi nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Bồ Đào Nha, Álvaro Gomes (2007: 29) cho rằng “Động ngữ là một trong những cấu trúc cơ bản của câu, trong đó có hạt nhân là động từ. Động từ là những từ có thay đổi nhiều nhất trong tiếng Bồ Đào Nha vì nó biến đổi theo ngôi (thứ nhất, thứ hai, thứ ba), theo số (ít, nhiều), theo thời (quá khứ, 16 z hiện tại, tương lai), theo dạng (chủ động, bị động) hoặc theo thức (chỉ định, giả định, điều kiện, nguyên thể, mệnh lệnh)” Vânia Maria do Nascimento Duarte (2012) thì cho rằng động ngữ là cụm từ luôn có thành tố trung tâm là động từ, động từ này có thể đứng trước một danh ngữ, tính ngữ hoặc giới ngữ.
Celso Cunha (2008:137) cũng nghiên cứu về động ngữ và quan điểm của ông là động ngữ làm nên vị ngữ của câu, hạt nhân của động ngữ là một động từ và xung quanh hạt nhân đó có các thành tố phụ. Theo quan điểm của các tác giả sách Ngữ pháp tiếng Bồ Đào Nha, trong tiếng Bồ Đào Nha, động ngữ (tiếng Bồ Đào Nha: sintagma verbal) bao gồm hạt nhân là một động từ và có các thành phần phụ đứng trước và sau động từ (Maria Helena, 2003:403). Động từ trong các ngôn ngữ biến hìnhđược nhận biết nhờ những phụ tố đặc trưng cho chúng và nhờ khả năng biến dạng theo ngôi, thời, dạng, thức, tiếng Bồ Đào Nha cũng vậy. Trong các ngôn ngữ không biến hình như tiếng Việt thì “tiêu chí nhận diện động từ là khả năng làm trung tâm một loại cụm từ chính - phụ (động ngữ)” (Nguyễn Thiện Giáp, 1995: 245).
Ví dụ: Tôi muốn học tiếng Bồ Đào Nha. Trong ví dụ trên của tiếng Việt, muốn học tiếng Bồ Đào Nha là một động ngữ gồm động từ muốn là thành tố chính - thành tố trung tâm, còn học tiếng Bồ Đào Nha là thành tố phụ. Và trong bản thân thành tố phụ ấy cũng là một động ngữ với động từ học là thành tố chính, tiếng Bồ Đào Nha là thành tố phụ. Xét trong tiếng Bồ Đào Nha chúng tôicũng nhận thấy cấu trúc tương tự như vậy.
Như vậy, động từ quero (muốn) là thành tố chính, aprender português (học tiếng Bồ Đào Nha) là thành tố phụ. Và thành tố phụ đó cũng là một động ngữaprender (học) là thành tố chính, còn português (tiếng Bồ Đào Nha) là thành tố phụ. Ta hãy xem thêm các ví dụ sau: Tiếng Bồ Đào Nha Động ngữ Eu vou comprar esta casa Nghĩa Tôi sẽ mua này nhà Thành phần TTPT TTTT TTPS Tiếng Việt Động ngữ Tôi sẽ mua căn nhà này Thành phần TTPT TTTT TTPS 1. Khái niệm động ngữ trong tiếng Việt Trong tiếng Việt, động ngữ cũng là một đề tài được giới nghiên cứu rất chú ý từ trước đến nay.
Không có một sách ngữ pháp nào không đề cập đến vấn đề động ngữ và danh ngữ. “Động ngữ chính là đoản ngữ có động từ làm trung tâm.”(Nguyễn Tài Cẩn,1975: 247) Theo Diệp Quang Ban (1992: 62) “Cụm động từ là tổ hợp từ tự do không có kết từ đứng đầu, có quan hệ chính phụ giữa thành tố chính với thành tố phụ, và thành tố chính là động từ. Cấu tạo chúng của động từ gồm ba phần: phần trung tâm, phần phụ trước và phần phụ sau”. Còn theo các tác giả cuốn Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt (Mai Ngọc Chừ, 2003: 280) “Động ngữ là nhóm từ chính phụ có động từ làm thành tố chính.” 18 z Diệp Quang Ban(2005:447)cho rằng của “Xét theo khả năng xuất hiện của các yếu tố trong cụm từ, cấu tạo chung của cụm động từ gồm có ba phần: phần đầu tố và các phó từ đứng trước đầu tố, các phó từ đứng sau đầu tố.” Ví dụ: đã ăn rồi Phó từ đứng trước Đầu tố Phó từ đứng sau đã ăn rồi Như vậy, qua tổng hợp các nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học Bồ Đào Nha và Việt Nam, chúng tôi thấy có thể phát biểu khái quát về động ngữ như sau: Động ngữ là một ngữ đoạn/ đoản ngữđược tổ chức theo quan hệ ngữ pháp chính phụ mà động từ giữ chức năng là thành tố chính, thành tố trung tâm.
Cấu trúc cơ bản của động ngữ bao gồm: phần phụ trước, phần trung tâm và phần phụ sau như cấu trúc thường thấy của đoản ngữ. Phần trung tâm do một động từ đảm nhận. Về cơ bản, phần phụ trước của động ngữlà các hư từ, có tác dụng định tính mối quan hệ về thời gian, trạng thái của hành động nêu ở động từ thành tố chính. Phần phụ sau có tác dụng mở rộng nội dung từ vựng (các thực từ làm bổ ngữ)của động từ - thành tố chính.
Cũng cần lưu ý thêm rằng: “Đối với động ngữ không có khả năng tạo thành những đoản ngữ dạng lý tưởng, bao gồm hầu hết thành tố phụ như ở danh ngữ.