MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Hàng ngày, trong cuộc sống, con người ta có rất nhiều các hoạt động diễn ra trong thời gian. Việc sử dụng ngôn ngữ xác định thời gian là rất cần thiết, do vậy con người đã sáng tạo những công cụ, vật dùng dé báo thời gian hoặc tìm tòi cách thức xác định thời gian. Thậm chí, kế cả quan sát từ thiên nhiên hay dùng tay đánh vào một vật dung nào đó để thông báo về thời gian.
Thời gian không thể tach rời cuộc sống của chúng ta kế cả buổi sáng, buổi trưa, budi chiều, buổi tối. Thời gian là công cụ quy định những hành động từ một thời điểm bắt đầu đến một thời điểm kết thúc. Vì thời gian là một công cụ quy định nền tảng của vạn vật nên con người rat coi trọng thời gian. Các từ chỉ thời gian xuất hiện ở tất cả các ngôn ngữ trên thế giới như “Tue” trong tiếng Thái, “O’clock” trong tiếng Anh, “Uhr” trong tiếng Đức, “Kl” trong tiếng Hàn, “Giờ” trong tiếng Việt v.
Việc phát triển những từ chỉ thời gian này là nhằm sử dụng chúng trong giao tiếp đối với những người cùng văn hoá và xã hội, giúp họ có thể thực hiện chung những hoạt động và thuận tiện trong giao tiếp. Thời gian là một phạm trù phổ quát trong ngôn ngữ. Ngôn ngữ nào cũng có các phương thức thê hiện và nhận diện thời gian. Tiếng Thái (Lan) và tiếng Việt cũng như vậy.
Cả hai ngôn ngữ này đều cùng thuộc loại ngôn ngữ đơn lập nên một trong những phương tiện thé hiện “thời gian” là từ vựng (ngoài từ vựng là: ngữ cảnh, ngữ dụng, trật tự từ). Đặc điểm từ chỉ thời gian trong tiếng Thái (hiện đang sử dụng ở nước Thái Lan) và tiếng Việt nhìn chung là chúng tương đương với nhau nhưng khi xem xét sâu hơn cho thấy chúng còn hoàn toàn không trùng nhau ở một số chi tiết về hình dung, quan niệm, ý nghĩa. Nói cách khác, khi dịch từ tiếng Thái sang tiếng Việt (hoặc ngược lại) có những từ có thể dịch trực tiếp bằng từ tương đương, nhưng cũng có khi không tìm được từ sát nghĩa để dịch. Ngoại ra, việc tìm hiểu về các từ chỉ định “thời gian” sẽ giúp chúng ta hiểu hơn những sự kiện trong lịch sử như Pranee Kullavanijaya [29, tr.
105] cho rằng “ Từ chỉ định thời gian xuất hiện để làm rõ hiện tượng, tạo nên sự nhận biết trùng nhau giữa sự kiện nào xảy ra trước - sau hoặc cùng một lúc. Đặc điểm hình thức xác định gian của các dân tộc cũng phản ánh hiện tượng xã hội và nền văn hoá của mỗi dân tộc đó. Vì nền văn hoá thé hiện thông qua ngôn ngữ, và chính ngôn ngữ cũng thé hiện rõ tới văn hoá. Ngôn ngữ làm công cụ ghi chép, truyền đạt và ánh xạ văn hoá, vì vậy cách thức chỉ thời gian của các dân tộc đều có nguồn từ xã hội và văn hoá riêng từng địa phương ”.
Vì vậy việc tìm hiểu từ chỉ thời gian trong hai thứ tiếng rất cần thiết. Vấn đề là nếu nhu cầu học hỏi từ vựng là phải phân định được phương thức xác định những nhóm từ ấy. Do vậy chúng tôi mới chọn làm rõ phương thức xác định thời gian trong tiếng Thái và tiếng Việt để làm bước đầu tìm hiểu thêm về các từ chỉ thời gian về sau. Là một giáo viên giảng dạy tiếng Thái cho sinh viên Việt Nam và giảng dạy tiếng Việt cho sinh viên Thái Lan.
Tôi thấy việc tìm hiểu về phương thức xác định thời gian của tiếng Thái và tiếng Việt là điều hết sức hữu ích. Không chỉ đối với những người dạy và học tiếng Thái mà cả đối với những người day và học tiếng Việt ở những chuyên ngành khác để họ có thé hiểu rõ và nâng cao kiến thức của mình. Với những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài Phương thức chỉ định thời gian trong tiếng Thái so với tiếng Việt làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Khi nghiên cứu các từ chỉ thời gian trong tiếng Thái, so sánh với các từ chỉ thời gian trong tiếng Việt, chúng tôi đã tham khảo một số nghiên cứu trước đó về từ chỉ thời gian cả trong tiếng Thái lẫn tiếng Việt thuộc chuyên ngành ngôn ngữ học.
Ở Thái Lan và Việt Nam đã có các công trình nghiên cứu đề cập đến từ chỉ thời gian ở những mức độ khác nhau. Trong tiếng Việt khái niệm “thời”, “thể”, “thì” (tense) trên phương diện ngữ pháp chưa được xác định thống nhất là có hay không, và mỗi từ khác nhau như thế nào, mỗi tac giả riêng. Do vậy, chúng tôi sẽ dùng từ “thời gian” mang tính phố quát nhất làm tiêu biéu. Ngược lại, trong tiếng Thái ý kiến khá thống nhất là không thé hiện phạm trù “tense” trong ngôn ngữ.
Tức là tiếng Thái không biến đổi hình thái khi định vị sự kiện trong một thời điểm nào đó, nên các nhà Thái ngữ học ít chuyên sâu vào vấn đề “tiếng Thái có phạm trù Tense hay không” (tense là phạm trù ngữ pháp dé diễn đạt ý nghĩa thời gian bằng phương thức biến hoá hình thái của động từ một cách quy tắc như trong ngôn ngữ Ấn - Âu) nhưng luôn đi vào những vấn đề khác mà chúng tôi sẽ đề cập sau đây: + Ở Thái Lan, có những công trình ngôn ngữ học nghiên cứu về “từ chỉ thời gian ” như sau: - Nawawan Phanthumetha [32, tr. 4], ban đến từ chỉ thời gian trong giáo trình “Ngữ pháp tiếng Thái”, cho rằng tiếng Thái phân định thời gian thành: ngày, tháng, năm, giờ, phút, giây. Chúng mang cả tính chất thời gian xác định và thời gian phiếm định tuỳ từng trường hợp. Bà đề cập một số loại từ ngữ có biểu hiện ý nghĩa thời gian như phó ti thời gian là các từ biểu hiện thời gian diễn ra hành động, ví du: wø (đã từng), uaa (rồi), 8s (dang), sau (sắp), tñøU (gan), fis (vừa), & (còn), v.
và từ quan hệ là những từ nằm trước danh từ hoặc danh ngữ biểu đạt ý nghĩa thời gian, ví du: wa (cứ), tẩo (khi), sau (lúc), đau (từ khi), su (cho đến), wếtaan (sau khi), rou (trước), taunt (trước đây), sazf (hồi), san (thời khắc), v. - Nomnit Wongduttitam [33, tr. 153], trong luận van “Từ chỉ thời gian trong ngôn ngữ Thái”, Bà nghiên cứu về vị trí và chức năng của từ chỉ thời gian trong câu tiếng Thái. Bên cạnh đó, Bà phân định các từ chỉ thời gian thành 2 loại gồm: 1) Từ chỉ thời gian có thé tồn tại độc lập, ví dụ như ta (sang), taø (chiều), sialu (tiếp theo), ss (khi nay); 2) Từ chỉ thời gian không thé tồn tại độc lập, nó phải kết hợp với những thành tố chỉ thời gian khác như ñ (nay), rou (trước), v4 (kiếp), m (lượt), ä (lần),.
- Vichin Phanuphong [39, tr. 94 - 112], trong bài “Phân tích tiếng Thái theo quy tắc Ngôn ngữ học” cũng bàn tới các từ chỉ thời gian có khả năng tồn tại độc lập và các từ chỉ thời gian không thé tồn tại độc lập. Ngoai ra, ông còn nêu lên từ chỉ thời gian trong tiếng Thái có thé xuất hiện ở đầu câu hoặc cuối câu, rồi giá trị của câu không biến đổi, ví dụ: nanAvermenurain (Ban đêm trời rất lạnh), ø+namwu+aannsasẩi (Trời rất lạnh ban đêm). Hai ví dụ trên cho thấy các từ chỉ thời gian (seunanfs.
: ban đêm) nằm ở đầu câu hoặc cuối câu thì nội dung của câu vẫn giữ nguyên, nhưng chỉ khác là người nói dự định nhấn mạnh vào những thông tin nảo thì sẽ đưa lên trước cái nội dung ấy. - Oranut Suwannarat [40, tr. 108 - 135], nghiên cứu đề tài “Từ chỉ thời gian trong phương ngữ Nam, tỉnh Nakhon Si Thammarat - Thai Lan”. Theo tác giả xét về cấu trúc từ chỉ thời gian có 5 loại: 1) từ đơn đơn tổ như tử (sáng) uw (chiều); 2) từ phức, chứa hon một tiếng trong đó chỉ ít là có một từ tố không độc lập, có một tiếng rõ nghĩa, tiếng còn lại có thé là tiếng mờ nghĩa hoặc không rõ nghĩa) như iienu (hôm qua), wad (ngày mai); 3) từ ghép chính phụ, trong đó yếu tổ chính là yếu tố giữ vai trò chỉ ý nghĩa khái quát về chủng loại của sự vật, đặc trưng, yêu tố phụ thường là yếu tố cụ thé hoá nghĩa của yếu tố chính như hing (Sang sớm), var (buổi chiều); 4) từ ghép đăng lập, chúng tạo ý nghĩa tổng hợp và nghĩa đó được tạo thành từ a.
Hai yếu tố có nghĩa giống nhau hoặc gần nhau b. Mỗi yếu tố co nghĩa riêng nhưng hai nghĩa nay chỉ những vật, việc gần loại với nhau như Øuïaiit»i (sang năm trời xanh: sang năm mới) tữzaut¬utốt (sáng trưa chiều tối : thời gian vào qua một ngày), gave (ngày lành tháng tốt: ngày tháng được coi là tốt lành) ; 5) từ lay, khi dùng với thời gian thì chúng giảm nghĩa như tử: + (sáng sáng: lúc gần sáng hay độ sáng thấp), su (tối tôi: lúc gần tôi hay độ tối thấp), vw 9 (chiều chiều: lúc gan chiều hay chưa chiều han). - Pranee KullavarniJaya [29, tr. 88 - 106], nghiên cứu từ chỉ thời gian trên phương diện cấu tạo từ chỉ thời gian (deictic time markers), ngữ nghĩa và tri nhận ý niệm của từ chỉ thời gian trong tiếng Thái.
Về mặt cấu trúc từ, tác giả phân chia các từ chi thời gian thành 2 loại: từ đơn tiết như ule (khi), seu (lúc),. và từ đa tiết như usrieu (khi trước), seul (hiện nay),. Bà phân loại nét nghĩa (semantic types) của các từ chỉ thời gian thành: 1) nhóm từ chỉ thời gian lây điểm mốc là thời gian hiện tại (the location time of utterance) ; 2) nhóm từ chỉ thời gian lay điểm mốc là một sự kiện nao đó (the text time reference). Về mặt tri nhận ý niệm có liên quan tới thời gian trong tiếng Thái, thể hiện 3 loại ấn dụ bao gồm: 1) thời gian là một đối tượng chuyển động (moving time metaphor); 2) thời gian là một đối tượng không chuyển động (standing time metaphor); 3) thời gian là một đối tượng đi theo trật tự (time layer metaphor).
- Prajuk Praphaphittayakorn [34, tr. 78 - 84], lý giải về cách thức định vị thời gian và cội nguồn của các tu “tu (ngày), wou (thang), J (năm)” trong tiếng Thái. Ong cho rằng, 5u (ngày) là khoảng thời gian trái đất tự xoay xung quanh nó đúng một vòng bằng 24 giờ = 1 ngày. tấu (tháng) là khoảng thời gian mặt trăng xoay xung quanh trái dat đúng một vòng bằng 1 tháng.
(năm) là khoảng thời gian trái đất di chuyển hết 1 vòng quanh mặt trời bằng 365 ngày = | năm. - Rungarun Tikachunhatian [38, tr.