CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Những khái niệm thuộc khung lý thuyết cho nghiên cứu của luận văn 1. Đoản ngữ Danh ngữ chính là một dạng của đoản ngữ. Do đó, muốn hiểu rõ về danh ngữ, trước tiên chúng ta phải có một cái nhìn phổ quát nhất về đoản ngữ.
Những đặc điểm của đoản ngữ sẽ là hệ quy chiếu giúp chúng ra nhận diện danh ngữ rõ hơn. “Đoản ngữ” là một trong những đơn vị cú pháp có cấu trúc phức tạp, tần số sử dụng cao, được coi như hòn đá tảng trong các lý thuyết cú pháp đối với các khuynh hướng ngữ pháp hiện đại. Đoản ngữ là một cụm từ chính phụ , có một trung tâm, và được sử dụng dé tạo câu. Có nhiều loại đoản ngữ: đoản ngữ danh từ, đoản ngữ tính từ, doan ngữ động từ, v.
Khi xem xét từ loại và ngữ đoạn có thanh tố hạt nhân thuộc các từ loại khác nhau trong tiếng Bồ Đào Nha, nhà ngôn ngữ học Maria Brito (2003) đã phân loại đoản ngữ (sintagma) tiếng Bồ Đào Nha thành 5 loại: danh ngữ, động ngữ, tính ngữ, trạng ngữ, giới ngữ. Trong các loại đoản ngữ này, các từ trung tâm tương ứng là danh từ, động từ, tính từ, trạng từ, giới từ. Theo Maria Brito, “đoản ngữ 1a các cầu trúc trong đó có một thành tố trung tâm và các thành tố phụ bổ sung cho thành tố trung tâm” (12, pg. Các nhà ngôn ngữ học Bồ Đào Nha thống nhất về hai đặc điểm của đoản ngữ như sau: + Trung tâm thuộc vảo từ loại nào thì toàn đoản ngữ cũng giữ các đặc trưng của từ loại đó.
Vì vậy có thé căn cứ vào trung tâm dé phân loại đoản ngữ thành đoản ngữ của danh từ (danh ngữ), đoản ngữ của động từ (động ngữ), đoản ngữ của tính từ (tính ngữ), v. + Trong các tô hợp khác, trung tâm giữ chức vụ nao thì toàn đoản ngữ cũng có thé dam nhiệm được các chức vụ đó. Nói cách khác, đoản ngữ không gắn liền với một chức vụ nhất định. Vì vậy có thê tách riêng đoản ngữ ra nghiên cứu một cách độc lập với chức năng cú pháp.
13 Vị dụ: Agora precisava inventar uma boa menfira (đoản ngữ danh từ) (Tôi cần phải bịa ra một lời nói đối thích hợp.) (Meninos, eu conto — Antônio Torres) la comprar um pão e sal ou mesmo um pão de milho. (doan ngữ động từ) (Tôi sẽ di mua bánh mì và muối hoặc thậm chi là bánh ngô. outras paredes e painéis de outras salas igualmente bem iluminadas. (đoản ngữ tinh từ) (những bức tường và biển hiệu từ các tiệm khác cũng sáng đèn.) (Contos — Ana Maria Machado) Doan ngữ tiếng Việt, theo Nguyễn Tai Can (1975), là một loại tô hợp tự do, kết hợp theo quan hệ chính phụ bao gồm một trung tâm nối liền với các thành tố phụ bằng quan hệ chính phụ.
Vị dụ: nhà này Trong doan ngữ trên, danh từ “nha” là trung tâm của đoản ngữ, còn từ “nay” chính là thành tố phụ bé sung ý nghĩa chỉ định cho trung tâm đoản ngữ. Trong hệ thống các tổ hợp tự do, đoản ngữ chiếm một vi trí riêng biệt, có các đặc điểm sau: - Đoản ngữ gồm một thành tố trung tâm và một hay một số thành tố phụ quây quần xung quanh trung tâm đó dé bồ sung thêm một số chỉ tiết thứ yếu về mặt ý nghĩa. Vi dụ: đang học ngữ pháp Trong đoản ngữ trên, “hoc” là thành tố trung tâm (động từ), còn “dang” là thành tố phụ chỉ thời gian, còn “zgữ pháp” là thành tố phụ chỉ đối tượng tiếp nhận hành động. - Doan ngữ có các đặc trưng ngữ pháp của trung tâm: + Trung tâm thuộc vào từ loại nào thì toan đoản ngữ giữ các đặc trưng của từ loại đó.
+ Trung tâm có thé giữ một chức vụ gì trong một tổ hợp khác thì toàn đoản ngữ cũng 14 có thể đảm nhiệm được các chức vụ đó. Danh ngữ Danh ngữ chính là một cụm tô hợp tự do, được kết hợp theo quan hệ chính phụ. Bởi danh ngữ chính là một dạng của đoản ngữ nên danh ngữ có đầy đủ những tính chất của một đoản ngữ. Đó là những tính chất sau: - Danh ngữ có danh từ làm trung tâm và có các định tố quây quần xung quannh trung tâm dé bé sung ý nghĩa cho trung tâm.
Vị dụ: Sáu tuổi nó đã è ach nách cái rồ khoai lang luộc. (Giao thừa — Nguyễn Ngọc Tu) Trong tổ hợp trên, “rd” chính là danh từ trung tâm, còn “khoai lang luộc” là định tố chỉ loại, và “cdi” là từ chỉ xuất. - Danh ngữ giữ đặc trưng của danh từ, và đảm nhận các chức vụ ngữ pháp trong câu như một danh từ: chủ ngữ, bé ngữ, trang ngữ, v. Vi du: Tôi mượn chong sách kia từ thư viện.
(danh ngữ làm bỗ ngữ) Những anh bộ đội từng chiến đấu ở chiến trường biên giới Tây Nam sẽ gdp lại nhau. (danh ngữ làm chủ ngữ) Ngày kia, tôi mới di Tây Bắc. Tình hình nghiên cứu danh ngữ tiếng Bồ Đào Nha và danh ngữ tiếng Việt 1. Danh ngữ tiếng Bồ Đào Nha Danh ngữ là một đơn vị phân tích cú pháp được nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm và nghiên cứu.
Danh ngữ tiếng Bồ Đào Nha cũng như vậy và nhìn chung các nhà ngôn ngữ học như Ana Maria Brito (2003), Neves (2000), Bechara (1999). đều có quan điểm tương đồng nhau. Theo Ana Maria Brito (2003), cấu trúc nội hàm của danh ngữ phụ thuộc vao loại danh từ làm thành tổ trung tâm. Danh ngữ có danh từ riêng làm trung tâm có số lượng 15 phụ tố hạn chế.
Khi trung tâm danh ngữ là danh từ chung thì danh ngữ có thé chứa bổ tố, định tố', thành tố hạn định và thành tố chỉ số lượng. tố, thành tố hạn định và thành tố chỉ số lượng. Ví dụ: a discussão (cuộc thảo luận) a discussdo sobre propinas (cuộc thảo luận về học phí) a điscussão sobre propinas na Faculdade (cuộc thảo luận về học phí ở Khoa) a importante discussão sobre propinas (cuộc thảo luận quan trọng về học phí) alguns livros (vài quyền sách) alguns livros de Historia (vài quyên sách về Lich sử) alguns livros de Historia que comprei ontem (vài quyền sách về Lịch sử mà tôi mua hôm qua) alguns livros antigos de Historia (vai quyên sách cô vê Lich sử) (12, pg. 328 - 329) Trong ví dụ trên, “discussdo” (cuộc thảo luận) va “livros” (quyên sách) là thành tố trung tâm, mạo từ “a” là thành tố hạn định, “sobre propinas” (về học phí) và “na Faculdade ”(ö Khoa) là bỗ tô, “importante” (quan trọng) là định tố.
Tác giả này khăng định, danh ngữ được cấu tạo từ hai cấu trúc: từ vựng và chức ? Khái niệm bổ tố (complemento) và định tố (modificador): Trong tiếng Bồ Đào Nha, “b ổ tố” ở „An và “định tố” là các yếu tố bổ sung ý nghĩa cho danh từ. Bổ tố (complemento nominal) là danh từ bổ sung ý nghĩa cho danh từ trung tâm, nối với danh từ trung tâm bằng các giới từ. Còn đảm nhiệm chức năng định tố (modificador) là các tính từ, mệnh đề tính ngữ và đồng vị ngữ. Cấu trúc từ vựng chính là nghĩa biểu hiện của danh ngữ, do danh từ và bỏ tố, định tổ đảm nhiệm.
Còn cấu trúc chức năng được cấu tạo bởi thành tố hạn định và các thành tố chỉ số lượng, có nhiệm vụ chỉ ra giống/ số/ chỉ định, bổ sung ý nghĩa ngữ pháp cho danh từ trung tâm. Kuramoto (2002) cũng cho rằng, danh ngữ được cấu tạo từ hai cấu trúc: cau trúc ngữ pháp và cấu trúc từ vựng-logic. Ngoài ra, ông chia danh ngữ thành hai loại: danh ngữ đơn và danh ngữ phức. Vị dụ: O estudo (bài nghiên cứu) “O esfudo ” là một danh ngữ đơn chứa cấu trúc: Từ hạn định + danh từ.
Tuy nhiên, trong ví dụ dưới đây, ta sẽ thấy một danh ngữ phức tạp hơn: Vi dụ: O estudo sobre a poluicão de solo (bài nghiên cứu về 6 nhiễm dat) Theo Kuramoto, danh ngữ này là danh ngữ phức do được tạo nên bởi ba danh ngữ nhỏ hon là: “o estudo” (bài nghiên cứu), “a poiwicão đe solo” ([sự] 6 nhiễm) và “solo” (dat). “Solo” chính là một danh ngữ bị triệt tiêu hết các thành phần phụ trước và sau, chỉ còn lại danh từ. Loại danh ngữ này người ta không trọng tâm nghiên cứu, tuy nhiên trên lý thuyết, nó vẫn được xem là một danh ngữ. Dễ thấy, thành tố phụ của danh ngữ phức lại là các danh ngữ nhỏ hơn và tạo nên một tô chức tầng bậc.
“Solo” là “danh ngữ” bồ nghĩa cho “a poluieão”; “a poluicão de solo” bỗ nghĩa cho “o estudo”. Từ đó, chúng ta có thứ tự tang bậc của vi dụ trên là: solo — bậc 1 (danh từ “solo” được tác giả coi là một danh ngữ không có phan phụ trước va phần phụ sau); a poiuicão de solo — bậc 2; O estudo sobre a poluicão de solo — bậc 3. O estudo sobre a poluicão de solo (nghiên cứu) (vé) (6 nhiém) (dat) 4 danh ngữ bac | danh ngữ bac 2 | danh ngữ bac 3 17 Còn theo Pinila (2004), thành tố trung tâm danh ngữ là một danh từ hoặc một đại từ (đại từ nhân xưng, đại từ chỉ định, đại từ bất định, đại từ nghỉ vấn, đại từ sở hữu hoặc đại từ quan hệ). Ngoài thành tố trung tâm, danh ngữ còn chứa thành tố hạn định và/hoặc định tố.
Thành tố hạn định là các thành té chỉ sự xác định cho thành phần khác trong một cụm từ, thường đứng trước và xác định cho danh từ trung tâm. Trong danh ngữ, thành tố hạn định là các mạo từ, dai từ và số từ còn định tố là thành tổ thiết lập mối quan hệ bồ nghĩa trong danh ngữ. Định tố có thé là tính từ hoặc cụm giới từ hoặc mệnh đề tính ngữ, trong một sé truong hop dinh tố còn có thé là một trạng từ hoặc một trạng ngữ. Định tố tiếng Bồ Đào Nha thường đi sau thành tố trung tâm.
Vị dụ: Tu tens um cão horrivelmente barulhento. “Horrivelmente barulhento” (ồn ào một cách khủng khiếp) là định tổ (là cụm tính từ) bổ sung cho trung tâm “cdo” (con chó), trong đó “horrivelmente” là trang từ b6 sung cho tính từ “barulhento”. um cão horrivelmente barulhenfo trạng từ tính từ thành tô hạn định | danh từ trung tâm định tô ‡ (mạo từ) Pinila (2004) khang định, “bất cứ từ vựng ở lớp từ nào, khi có chức năng là thành tổ trung tâm trong danh ngữ thì đều được hiểu là danh từ”. Vị dụ: “Estudar é muito necessário para os alunos.” (Đối với hoc sinh, hoc là rat cần thiết.) Trong vi dụ trên, “estudar” (học) có đuôi “-ar” được xác định là động từ nhưng lại làm chủ ngữ nên nó chính là một từ được danh từ hóa.