phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, kết quả nghiên cứu của luận văn được chia thành 03 chương như sau: Chvơng 1: Những vấn đề chung Chvơng 2: Hệ thống từ ngữ biểu thị các cung bậc của tình cảm và ảo mộng tình yêu trong Mê hồn ca và Đường vào tình sử 12 Chvơng 3: Lớp từ ngữ thể hiện các cung bậc tình cảm và ảo mộng với việc biểu đạt tín hiệu thẩm mĩ, cách tân ngôn ngữ trong Mê hồn ca và Đường vào tình sử 13 Chvơng 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1. Ngôn ngữ và ngôn ngữ nghệ thuật 1. Ngôn ngữ - khái niệm, chức năng và đặc trưng Ngôn ngữ là một hệ thống các đơn vị và quy tắc kết hợp để tạo thành lời nói trong hoạt động giao tiếp như: âm vị, hình vị, từ, cụm từ cố định, câu.
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp của con người ở dạng tiềm tàng, được phản ánh trong ý thức của cộng đồng và trừu tượng khỏi tư tưởng, tình cảm cụ thể của con người. Ngôn ngữ có tính chất xã hội, cộng đồng. Ngôn ngữ là một hệ thống kí hiệu từ ngữ đặc biệt dùng làm phương tiện giao tiếp và làm công cụ tư duy. Ngôn ngữ gồm ba bộ phận: ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp.
Các đơn vị của ngôn ngữ là âm vị, hình vị, từ, câu, ngữ đoạn, văn bản Bất cứ ngôn ngữ của dân tộc nào cũng chứa đựng phạm trù ngữ pháp và phạm trù lôgic. Phạm trù ngữ pháp là một hệ thống các quy định việc thành lập từ và câu, quy định sự phát âm. Phạm trù ngữ pháp ở các ngôn ngữ khác nhau là khác nhau. Phạm trù lôgic là quy luật, phương pháp tư duy đúng đắn của con người, vì vậy tuy dùng các ngôn ngữ (tiếng nói) khác nhau, nhưng các dân tộc khác nhau vẫn hiểu được nhau.
"Ngôn ngữ", trong vai trò là đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học, có hai nghĩa chính: một khái niệm trừu tượng hoặc một hệ thống ngôn ngữ cụ thể kiểu như "tiếng Việt". Nhà ngôn ngữ học Thụy Sĩ Ferdinand de Saussure (ông là người có công định hình nghiên cứu ngôn ngữ học hiện đại) là người đầu tiên phân biệt rõ ràng sự khác biệt đó. Trong cuốn Giáo trình Ngôn ngữ học đại cương ông sử dụng từ language để chỉ một khái niệm, từ langue để chỉ một ví dụ cụ thể của một hệ thống ngôn ngữ và từ parole để chỉ lối sử dụng lời nói trong một ngôn ngữ cụ thể. Ngôn ngữ là một hệ thống thống nhất các yếu tố có quan hệ với nhau.
Mỗi yếu tố là một đơn vị. Các đơn vị trong hệ thống ngôn ngữ được sắp xếp theo những quy tắc nhất định. Sự tồn tại của đơn vị ngôn ngữ này quy định sự tồn tại của đơn vị ngôn ngữ kia. 14 Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu vì mỗi đơn vị ngôn ngữ là một tín hiệu.
Mỗi tín hiệu đều có hai mặt: hình thức âm thanh và cái mà hình thức đó biểu đạt. Nhà ngôn ngữ học Thụy Sĩ, F.de Saussure gọi mặt thứ nhất là cái biểu đạt, mặt thứ hai là cái được biểu đạt. Mặt hình thức của tín hiệu là những dạng âm thanh khác nhau mà trong quá trình nói năng con người đã thiết lập lên mã cụ thể cho mình, đó chính là đặc trưng âm thanh cụ thể của từng ngôn ngữ. Còn mặt nội dung (cái được biểu đạt) là những thông tin, những thông điệp về những mảnh khác nhau của thế giới hiện tại mà con người đang sống, hoặc những dấu hiệu hình thức để phân cắt tư duy, phân cắt thực tại.
Như vậy, để trở thành một tín hiệu, bất kì một hiện tượng ngôn ngữ nào đã xuất hiện trong giao tiếp của loài người cũng phải bao gồm hai mặt khác nhau là mặt biểu hiện và mặt được biểu hiện. Mặt biểu hiện làm nhiệm vụ trung chuyển những nghĩ, tình cảm, xúc cảm, nhu cầu khác nhau của người nói tới được cơ quan thụ cảm của người nghe. Nếu không có cái biểu hiện thì quá trình giao tiếp giữa người nói và người nghe sẽ bị hoàn toàn cắt đứt. Mối liên hệ giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện là mối liên hệ rất đặc trưng của ngôn ngữ.
Đặc trưng này được thể hiện ở chỗ: mỗi một cái biểu hiện luôn chỉ có một cái được biểu hiện tương ứng. Khi mối liên hệ này bị cắt đứt thì các quá trình giao tiếp sẽ bị ảnh hưởng hoặc không thể thực hiện được. Do tính chất và số lượng của các từ trong một ngôn ngữ là vô cùng lớn nên ngôn ngữ học cấu trúc luận cho r ng mối liên hệ song hành này phải được coi là võ đoán với nhau và phải được quy ước. Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt, được dùng làm phương tiện giao tiếp quan trọng nhất và phương tiện tư duy của con người.
Ngôn ngữ có thể được hiểu như là sản phẩm của một cộng đồng cụ thể. Ngôn ngữ chỉ được hình thành và phát triển trong xã hội. Không có ngôn ngữ nào tách rời khỏi cộng đồng và không một người nào khi mới sinh ra, sống tách rời khỏi cộng 15 đồng mà khả năng sử dụng ngôn ngữ được hình thành. Điều đó làm cho ngôn ngữ khác về cơ bản với những hiện tượng có tính bản năng của con người.
Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt vì đó là loại dấu hiệu chỉ có ở con người và có nét đặc thù riêng. Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người. Con người muốn trao đổi thông tin truyền đạt một nghĩ hay thông điệp cần phải có hoạt động giao tiếp. Có rất nhiều phương tiện giao tiếp được con người sử dụng.
Con người kết hợp sử dụng nhiều loại phương tiện như phương tiện giao tiếp của loài vật, phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ và phương tiện giao tiếp ngôn ngữ,… Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp phổ biến nhất, ngôn ngữ cần thiết đối với tất cả mọi người, có thể sử dụng mọi lúc mọi nơi. Hay nói khác đi, phạm vi sử dụng của ngôn ngữ là không hạn chế. Ngôn ngữ là phương tiện có khả năng thể hiện đầy đủ và chính xác nhất những tư tưởng, tình cảm, cảm xúc mà con người muốn thể hiện. Ngôn ngữ không chỉ là phương tiện giao tiếp mà nó còn là phương tiện tuy duy.
Nghĩa là nhờ có ngôn ngữ mà con người còn có thể có hoạt động tư duy. Con người không chỉ dùng ngôn ngữ để trao đổi thông tin, tình cảm, cảm xác với người khác mà còn khi suy nghĩ một mình. Các khái niệm, phán đoán, suy diễn đều là những hình thức cơ bản của tư duy và đều được biểu đạt dưới dạng thức là ngôn ngữ. Ngôn ngữ nghệ thuật – Khái niệm, chức năng và đặc trưng Ngôn ngữ nghệ thuật là một thuật ngữ dùng để chỉ các phương tiện được sử dụng trong một ngành nghệ thuật, một sáng tác nghệ thuật.
Chúng ta đều biết rang, mỗi loại hình nghệ thuật đều có một ngôn ngữ nghệ thuật làm phương tiện để thể hiện riêng. Người ta có thể nói ngôn ngữ âm nhạc, ngôn ngữ điện ảnh, ngôn ngữ ba lê, ngôn ngữ điêu khắc., ngôn ngữ văn học. Ngôn ngữ nghệ thuật chính là "một hệ thống các phương thức, phương tiện tạo hình, biểu diễn, hệ thống quy tắc thông báo bằng tín hiệu thẩm mỹ của một 16 ngành, một sáng tác nghệ thuật" [19,tr. Thực tế cho thấy mỗi loại hình nghệ thuật có một đặc điểm riêng và phương tiện sáng tác riêng.
Nếu âm thanh là phương tiện sáng tác trong âm nhạc; màu sắc và đường nét là phương tiện sáng tác trong hội họa, thì ngôn ngữ nghệ thuật được xem là phương tiện sáng tác tác phẩm văn học. Phương tiện này có những đặc sắc riêng. Với tài năng sáng tạo, nhà văn hướng sự chú ý cấu trúc văn bản, tìm mọi cách cho hai mặt ngữ âm và ngữ nghĩa của ký hiệu ngôn ngữ hòa phối với nhau cùng phát huy tác dụng đối với cấu trúc hoàn chỉnh của tác phẩm văn chương. Gorki đã khẳng định rang "ngôn ngữ nghệ thuật là yếu tố thứ nhất của văn học".
Nó là công cụ giúp nhà văn xây dựng hình tượng, miêu tả đời sống của con người trong tác phẩm. Ngoài ra, ngôn ngữ nghệ thuật còn là công cụ tư duy, là phương tiện truyền đạt tư tưởng, tình cảm. của nhà văn qua mỗi hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm của mình. Thông qua ngôn ngữ văn học các nhà văn thể hiện tài năng của mình.
Ngôn ngữ nghệ thuật là ngôn ngữ đặc biệt, hoàn toàn khác biệt với khẩu ngữ, và từ ngữ giao tiếp hang ngày. Văn học là một loại ngôn ngữ "đặc biệt", đối lập với thứ ngôn ngữ "thực dụng" chúng ta thường dùng. Phương Lựu cũng đã cho rang, ngôn từ văn học: Là ngôn từ của một tác phẩm văn học, của thế giới nghệ thuật, kết quả sáng tạo của nhà văn. Đó là ng n từ giàu tính hình tượng và giàu sức biểu hiện nhất, được tổ chức một cách đặc biệt để phán ánh đời sống, thể hiện tư tưởng, tình cảm và tác động thẩm mỹ tới người đọc [21, tr.
Cùng với Phương Lựu, Huỳnh Như Phương quan niệm: "ngôn từ trong tác phẩm văn học là kiểu lời nói nghệ thuật do nhà văn sáng tạo trên cơ sở sản phẩm ngôn ngữ của một xã hội mà ng ta đã tiếp thu được" [21, tr. Ngôn ngữ trong tác phẩm văn học là một hiện tượng nghệ thuật do nghệ sĩ sáng tạo theo quy luật chung của nghệ thuật, truyền đạt một nghĩa mà 17 "không một phát ngôn nào có thể thay thế được" (G. Ngôn ngữ nghệ thuật có nhiệm vụ thể hiện tư tưởng nghệ thuật của tác phẩm. Chức năng quan trọng nhất của ngôn ngữ nghệ thuật là chức năng thẩm mỹ.
Chức năng này được xác định trong hệ thống các hình tượng tác phẩm và phong cách tác giả, bởi ngôn ngữ nghệ thuật thể hiện tài năng của nhà văn. Gorki đã cho rang: “Văn học là nghệ thuật ngôn ngữ”. Ngôn ngữ nghệ thuật cũng như ngôn ngữ tự nhiên, đời thường, ngôn ngữ văn bản phi nghệ thuật khác đều có những đặc điểm chung như tính hình tượng, tính cụ thể, gợi cảm, tính cá thể hoá, tình hàm súc, tính chính xác, tính đa nghĩa, tính tạo hình, tính nhịp điệu… Song, cần phải hiểu đặc trưng ngôn ngữ nghệ thuật với một nội dung sâu sắc hơn, gắn liền với đặc trưng phản ánh đời sống của văn học và nghệ thuật. Về căn bản, tư duy của nhà khoa học là trừu tượng hoá, còn tư duy của người nghệ sĩ là hình tượng hoá.
Tính hình tượng được xây dựng từ chất liệu ngôn từ.