mở đầu trạng ngữ của câu đã tạo ra hàm ý không mong muốn đó. Chỉ cần thay ‘khác với’ bằng ‘giống như’ chúng ta sẽ được một câu ca ngợi cả hai tác phẩm: ‘Giống như Dế mèn phiêu lưu ký, truyện ngắn Vợ chồng A Phủ cũng là một tác phẩm đã đem lại nhiều tiếng vang lớn cho nhà văn Tô Hoài’., có người viết về tình cảm với Xuân Diệu của nhà thơ Trần Đăng Khoa như sau: ‘Hồi nhỏ, Trần Đăng Khoa rất kính trọng nhà thơ Xuân Diệu.’ Đọc dòng trên độc giả sẽ hỏi: Hồi nhỏ là vậy còn hiện nay thì sao? Đã khẳng định ‘hồi nhỏ rất kính trọng’ thì hiện nay không thể là ‘rất kính trọng’ được nữa vì nếu trước sau vẫn luôn luôn rất kính trọng thì cần gì tới trạng ngữ ‘hồi nhỏ’? Ấy thế là hồi nhỏ rất kính trọng còn hiện nay thì khác. Nghĩa là không rất kính trọng nữa! Ca ngợi như vậy thì bằng mười phụ nhau. Những câu sau cũng gây ra những hiểu lầm tai hại cho dù người viết có thể không có ngụ ý gì: - Hồi trước, ông ấy liêm khiết lắm.
- Nó đã từng là người tử tế. - Mấy năm trước cô ấy xinh lắm. - Hiện tượng các công trình xây dựng kết cấu hạ tầng tiêu tốn hàng chục tỉ, trăm tỉ, ngàn tỉ đồng vừa hoàn công (thậm chí chưa hoàn thành thủ tục hoàn công, quyết toán) đã hư hỏng hoặc không thể sử dụng được [như.] không phải chuyện cá biệt ở Việt Nam.09) Trong câu trên trạng ngữ ở Việt Nam đặt cuối khiến câu trở thành mơ hồ mà nghĩa thứ hai là: ‘không phải cá biệt ở Việt Nam mà ở nhiều nước khác cũng vậy’ nghĩa này dẫn tới cảm nhận rằng bài báo này bào chữa cho những sai phạm trong xây dựng hạ tầng ở Việt Nam. Chỉ cần đảo thứ tự, đưa trạng ngữ lên đầu, thì hiện tượng mơ hồ trên sẽ bị mất đi.
Câu chỉ còn hàm ý phê phán: - Ở Việt Nam, hiện tượng các công trình xây dựng kết cấu hạ tầng tiêu tốn hàng chục tỉ, trăm tỉ, ngàn tỉ đồng vừa hoàn công (thậm chí chưa hoàn thành thủ tục hoàn công, quyết toán) đã hư hỏng hoặc không thể sử dụng được [như.] không phải chuyện cá biệt. Vai trò của tiền giả định trong hàm ý: Ông nhớ không, hồi chưa cưới tôi lúc nào ông cũng bảo ‘mỗi ngày chỉ cần gặp em một vài phút là anh đã thấy sung sướng lắm rồi’./ Bây giờ tôi cũng chỉ muốn được như vậy thôi bà ơi! (TTCT, 27.2011) Chưa cưới có tiền giả định thời gian không gặp nhau nhiều gấp bội thời gian gặp nhau. Vì vậy ‘mỗi ngày chỉ cần gặp em một vài phút’ có hàm ý mong muốn được gặp nhau. Đã thành vợ chồng, hàng ngày chung sống, có tiền giả định thời gian gặp nhau nhiều gấp bội thời gian không gặp nhau.
Vì vậy ‘mỗi ngày chỉ cần gặp em một vài phút’ có hàm ý mong muốn không phải gặp nhau. Không sai nhưng không thích hợp với tình huống. Nói năng trong giao tiếp bạn bè khác giao tiếp trước công chúng. Trò chuyện trên bàn ăn khác giao tiếp nghi lễ chính thống.
Có những quốc gia quy định về ngôn ngữ văn hóa trong những môi trường nhất định. Tại Quốc hội Israel (Knesset), một quy định về ‘đạo đức lời nói’ bắt đầu có hiệu lực từ 21. Ông nghị nào vi phạm sẽ bị. Theo quy định này có một danh sách các từ cấm kị mà các ông nghị không được dùng trong Quốc hội.
Đó là những từ thô tục, là những từ mà người Israel cho là lăng nhục họ, như ‘kẻ phản bội’, ‘tên thất học’, ‘tên độc ác’, ‘kẻ giả dối’. và là những từ mang màu sắc chính trị hoặc tôn giáo như ‘bài Do Thái’, ‘phát xít’, ‘tên khủng bố’, ‘chính phủ của những kẻ giết người’. Một vận động viên thể thao thường bị coi là ‘võ biền’ nhưng trước công chúng thì không được phép có những cử chỉ và lời nói thiếu văn hóa. Trong trận bán kết giải Wimbledon ngày 03.2009, đang trong lúc thi đấu Andy Murray bị trọng tài nhắc nhở vì có những lời nói ‘không thích hợp.
Ngoài đường phố, trong quán cà phê, khi ‘tám’ với bạn bè có thể dùng ngôn ngữ đường phố, dùng tiếng lóng, nhưng trong nghị trường thì không thể nói ‘Tôi đồng ý xử nghiêm [. Nghiêm ở đây không có nghĩa sai là ‘chặt chém’ ngay, như vậy thì hết người, không có người để làm.2010) ẳ Thay đổi, thêm bớt một từ, một dấu có thể làm nội dung câu khác hẳn đi. Câu đúng đấy nhưng vẫn có thể. ‘Sai’ nhưng lại là.
đúng Có những câu đứng riêng rẽ thì sai nhưng đặt trong ngữ cảnh thích hợp thì lại đúng. Ví dụ: ‘Bà nổi tiếng là một người đàn ông nghiêm nghị’ (PNVN, số 30, 1984). Có đọc cả bài mới biết người viết câu này có cái lý của mình. Đây là câu chuyện viết về bà De James người nước Anh, đóng giả trai và trở thành đại tướng quân y.
Mãi tới năm 1865 khi bà mất người ta mới biết viên tướng này là một phụ nữ. Kể chuyện về một phụ nữ nên phải viết ‘Bà nổi tiếng là.’, nhưng nhà báo viết theo điểm nhìn của người đương thời với vị tướng này. là người đàn ông nghiêm nghị’. Thế là thành câu trên, một câu có thể chấp nhận được.
Từ câu đúng tới câu sai Một văn bản, một câu nói chuẩn, nhưng dưới góc độ một cán bộ biên tập thì lại không đạt yêu cầu về sự chính xác ở một vài từ ngữ nào đó, nên đã biên tập lại. Người ta thay thế từ ngữ được biên tập lại này bằng những từ ngữ khác nhưng ít chú ý tới những biến đổi ngữ pháp khi thay thế từ. Một từ này không đòi hỏi giới từ nhưng từ thay thế cho nó lại đòi hỏi giới từ, hoặc ngược lại, thế là dẫn tới những câu sai. Chẳng hạn, khi trả lời phóng viên báo T, một vị phó chủ tịch thành phố nói: ‘Vấn đề là chúng ta đang thiếu năng lực điều hành’.
Dùng câu này làm tiêu đề cho bài phỏng vấn, nhưng có lẽ phóng viên nọ cho rằng từ ‘thiếu’ là một nhược điểm quá nặng, vì ‘thiếu’ là không có, nên đã giảm nhẹ đi bằng từ ‘hạn chế’. Vậy là có bài báo với hàng tít rất lớn đặt ngay đầu trang nhất ‘Vấn đề là hạn chế năng lực điều hành’ (b. Tít này sai ngữ pháp. Nói ‘hạn chế’ có nghĩa là ngăn lại, không cho vượt qua một mức nào đó.
Lẽ ra, cần đặt tít là ‘Vấn đề là năng lực điều hành còn (/bị) hạn chế’; ‘Vấn đề là hạn chế về/trong năng lực điều hành’. Sửa câu sai thế nào? 2. Nhìn nhận hiện tượng sai thế nào? Có nhiều ý kiến xác đáng khi bàn về câu sai. Song không khỏi có những ý kiến khiến người đọc băn khoăn khó chấp nhận.
Có những điều đơn giản, mọi người vẫn nói như thế nhưng sao có nhà nghiên cứu lại cứ làm rắc rối ra rồi bảo là thừa, là sai, là thiếu lô gích? Lại có những câu sai mà mỗi nhà ngôn ngữ phân tích lỗi theo một cách. Bởi vậy phân định đúng sai và nguyên nhân dẫn tới những câu sai là cần thiết nhưng cũng không đơn giản. Đã có người viết trên báo rằng lối nói ‘cấm không được hút thuốc lá’ là sai vì nó mâu thuẫn, không có lô gích: Đã cấm sao lại còn không được? nói vậy chả hóa ra cho phép hút thuốc lá hay sao? Và tác giả này đã đề nghị hoặc nói ‘không được hút thuốc lá’ hoặc là nói ‘cấm hút thuốc lá’. Sự thực, cả ba lối nói ‘cấm không được hút thuốc lá’, ‘không được hút thuốc lá’ và ‘cấm hút thuốc lá’ đều đúng.
Chúng ta chứng minh được điều này. Hiện tượng ngôn ngữ nào được nhiều người dùng ấy là đã được xã hội chấp nhận. Cái đúng của ngày hôm nay có thể được hình thành từ cái sai của ngày hôm qua. Và cũng hàng loạt cái đúng của ngày hôm qua thì nay lại không dùng nữa.
Có thể chỉ ra hàng loạt từ ngữ mà thời Nguyễn Trãi hay Nguyễn Bỉnh Khiêm dùng nhưng nay không dùng như vậy. Chuẩn mực ngôn ngữ là một hiện tượng động. Và xảy ra hiện tượng ‘để lâu câu sai hóa đúng’ (x. Có những nghiên cứu đòi hỏi biết từ nguyên của từ ngữ, nhưng thông thường chỉ cần biết nghĩa hiện dùng của từ là đủ.
Biết thêm gốc Hán-Việt của từ càng tốt nhưng không nên lấy gốc Hán làm căn cứ quan trọng nhất để phán xét đúng sai cho một từ. Trở lại với cấm và cấm không được. Hàng loạt động từ như quên, thôi, kiêng, tránh,. cũng giống hệt như cấm.
Chúng đều có những cách nói ‘mâu thuẫn’ nhau, người nói cách này, người dùng cách kia: quên mang sách/quên không mang sách, kiêng ăn mỡ/kiêng không ăn mỡ, thôi bán hàng/thôi không bán hàng, tránh gặp nhau/tránh không gặp nhau. Có nhiều cách sửa một câu sai Có nhiều cách phân tích, nhìn nhận một hiện tượng sai. Do vậy dẫn đến những cách sửa khác nhau. Chỉ ra đúng nguyên nhân của một câu sai sẽ giúp chúng ta sửa câu sai đó một cách hợp lý nhất.
Viết những câu ngắn thường đúng. Ai cũng cảm nhận được quy tắc ngữ pháp của chúng. Viết những câu dài là đã mở rộng các thành phần của câu ra tầng tầng lớp lớp. Viết những câu dài do đưa nhiều ý vào một câu thì dễ quên những điều đã viết, và cũng dễ quên mối liên hệ giữa các thành phần chính và mối liên hệ giữa mỗi thành phần chính với những thành phần phụ.
Kết quả là dễ dẫn tới những câu sai ngữ pháp. gặp câu dài, bạn hãy tìm cách gỡ dần dần đưa nó về câu ngắn nhất. Chúng ta thực hiện các bước sau: a) Tìm câu lõi của câu đó: - Những từ nào trong câu này có thể làm vị ngữ? - Những từ đó có quan hệ với nhau thế nào? (chú ý tới vai trò của từ hư trong thể hiện quan hệ) - Từ nào có thể là vị ngữ cốt lõi? b) Nghĩ tới những câu thật đơn giản dùng động từ trung tâm đó. c) Quan hệ giữa động từ trung tâm và những động từ còn lại thế nào? d) Đối chiếu sự khác biệt giữa những câu đơn giản này cùng mối liên hệ giữa chúng với câu cần sửa bạn sẽ phát hiện ra những chỗ ‘vênh’.
Từ đó chỉ ra được lỗi và cách sửa câu đang xem xét. Ví dụ 1: Một câu sai có nhiều cách phân tích lỗi khác nhau (1) ‘Trong toàn bộ Truyện Kiều của ông đã miêu tả một cách sâu sắc xã hội phong kiến thối nát.