Nghiên Cứu Nghệ Thuật Hoa Sen Trong Mỹ Thuật Thời Lý - Trần

Bài viết khám phá hoa sen trong mỹ thuật thời Lý Trần và ứng dụng vào giảng dạy trang trí cơ bản tại trường đại học sư phạm nghệ thuật trung ương.

Chuyên ngành

Mỹ thuật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn
98
33
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Nghệ Thuật Hoa Sen Thời Lý Trần Di Sản

Thời Lý (1009-1226) và Trần (1226-1400) là hai triều đại hoàng kim của lịch sử Việt Nam, đánh dấu sự trỗi dậy mạnh mẽ sau hàng ngàn năm Bắc thuộc. Trong giai đoạn này, nghệ thuật hoa sen đã trở thành một biểu tượng văn hóa quan trọng, thể hiện rõ nét trong kiến trúc, điêu khắc và trang trí. Hoa sen không chỉ là một môtíp trang trí phổ biến mà còn mang ý nghĩa sâu sắc về tâm linh, gắn liền với sự hưng thịnh của Phật giáo, được coi là quốc giáo thời bấy giờ. Nghiên cứu về hoa văn hoa sen Lý Trần giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn về giá trị vốn cổ dân tộc và sự sáng tạo của người nghệ sĩ Việt xưa.

1.1. Bối cảnh lịch sử và sự phát triển của mỹ thuật Phật giáo

Sự hưng thịnh của Phật giáo thời Lý-Trần đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của mỹ thuật Phật giáo. Các công trình kiến trúc như chùa tháp được xây dựng khắp nơi, trong đó hoa sen được sử dụng rộng rãi để trang trí. Theo nhà sử học Lê Văn Hưu, "Nhân dân quá nửa làm sư sãi, trong nước chỗ nào cũng có chùa", điều này cho thấy sức ảnh hưởng to lớn của Phật giáo đến đời sống tinh thần và nghệ thuật của người dân. Chùa Phật Tích, chùa Giạm, chùa Long Đọi, chùa Bà Tám, Tháp Chương Sơn sang đến thời Trần nhƣ Chùa Thái Lạc, Chùa Dâu… là những ví dụ tiêu biểu cho sự phát triển này. Sự phát triển mỹ thuật Phật giáo thời Lý đã đạt đến đỉnh cao.

1.2. Ý nghĩa biểu tượng của hoa sen trong văn hóa Việt Nam

Hoa sen là một biểu tượng thiêng liêng trong nhiều tôn giáo, đặc biệt là Phật giáo. Nó tượng trưng cho sự thanh khiết, giác ngộ và tái sinh. Trong mỹ thuật Lý-Trần, hình tượng hoa sen được sử dụng để thể hiện sự tôn kính đối với Phật pháp và những giá trị tốt đẹp của cuộc sống. Hoa sen trở thành biểu tượng hoa sen trong nghệ thuật Phật giáo, phản ánh triết lý nhân sinh sâu sắc và khát vọng hướng thiện của con người. Họa tiết hoa sen còn thể hiện trên các loại ấm, liễn, thạp gốm… thuộc các dòng gốm men ngọc, men trắng, men nâu và hoa nâu.

II. Vấn Đề Thiếu Nghiên Cứu Chuyên Sâu Về Hoa Sen Lý Trần

Mặc dù nghệ thuật hoa sen thời Lý - Trần đóng vai trò quan trọng trong lịch sử mỹ thuật Việt Nam, nhưng số lượng các nghiên cứu chuyên sâu về chủ đề này vẫn còn hạn chế. Nhiều công trình nghiên cứu chỉ đề cập đến hoa văn hoa sen một cách khái quát trong bối cảnh mỹ thuật chung của thời kỳ. Việc thiếu hụt thông tin chi tiết và phân tích sâu sắc về hình tượng hoa sen gây khó khăn cho việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa và ứng dụng vào giáo dục mỹ thuật. Cần có những nghiên cứu liên ngành, kết hợp giữa lịch sử, văn hóa và mỹ thuật, để làm sáng tỏ những giá trị độc đáo của hoa sen trong mỹ thuật Lý - Trần.

2.1. Đánh giá các công trình nghiên cứu về trang trí hoa sen hiện có

Một số tác giả như Trần Lâm Biền, Triệu Thế Hùng đã có những đóng góp quan trọng trong việc nghiên cứu về trang trí hoa sen. Tuy nhiên, các công trình này thường tập trung vào việc mô tả và phân loại môtíp hoa sen mà chưa đi sâu vào phân tích ý nghĩa biểu tượng và kỹ thuật tạo hình. Cần có những nghiên cứu tiếp cận theo hướng liên ngành để làm rõ hơn vai trò của hoa sen trong đời sống tâm linh và văn hóa của người Việt thời Lý-Trần. Công trình của Chu Quang Trứ cũng đề cập đến mỹ thuật Phật giáo nhưng chưa chuyên sâu về hoa sen trong điêu khắc Lý Trần.

2.2. Những hạn chế trong việc bảo tồn di sản hoa sen Lý Trần

Do tác động của thời gian, chiến tranh và sự thiếu ý thức bảo tồn, nhiều di tích hoa sen trong kiến trúc Lý Trần đã bị xuống cấp hoặc phá hủy. Việc phục dựng và bảo tồn các di tích này đòi hỏi nguồn lực lớn và sự hợp tác giữa các nhà khoa học, nghệ sĩ và cộng đồng. Đồng thời, cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục để nâng cao nhận thức của người dân về giá trị của nghệ thuật hoa sen và khuyến khích họ tham gia vào việc bảo tồn di sản văn hóa.

III. Phương Pháp Phân Tích Hoa Văn Hoa Sen Lý Trần Hướng Dẫn

Để nghiên cứu và hiểu rõ hoa văn hoa sen Lý - Trần, cần áp dụng phương pháp phân tích tổng hợp, kết hợp giữa việc thu thập tư liệu lịch sử, khảo sát di tích và phân tích tạo hình. Quá trình phân tích bao gồm việc xác định đặc điểm hình thái, bố cục và kỹ thuật thể hiện của môtíp hoa sen trên các công trình kiến trúc, điêu khắc và đồ gốm. Đồng thời, cần so sánh, đối chiếu với các mẫu hoa sen từ các nền văn hóa khác để tìm ra những nét độc đáo của nghệ thuật Việt Nam. Cuối cùng, cần diễn giải ý nghĩa biểu tượng của hoa sen trong bối cảnh lịch sử và văn hóa cụ thể.

3.1. Thu thập và xử lý tư liệu về hoa sen trong trang trí mỹ thuật

Việc thu thập tư liệu bao gồm việc tìm kiếm các tài liệu lịch sử, bia ký, sách cổ và các công trình nghiên cứu liên quan đến hoa sen và mỹ thuật Lý-Trần. Đồng thời, cần khảo sát thực địa các di tích kiến trúc, chùa tháp, bảo tàng để thu thập hình ảnh, bản vẽ và thông tin về hoa văn hoa sen trên các hiện vật. Tư liệu thu thập được cần được xử lý, phân loại và đánh giá để đảm bảo tính chính xác và đầy đủ.

3.2. Phân tích hình thái bố cục và kỹ thuật thể hiện hình tượng hoa sen

Quá trình phân tích bao gồm việc xác định số lượng cánh hoa, hình dáng lá, cách bố trí các bộ phận của hoa sen và kỹ thuật chạm khắc, đắp nổi, vẽ men được sử dụng. Cần chú ý đến sự khác biệt trong cách thể hiện hoa sen giữa các thời kỳ và các loại hình nghệ thuật khác nhau. Ví dụ, hoa sen trong điêu khắc Lý Trần có thể khác với hoa sen trong kiến trúc Lý Trần về hình dáng và kỹ thuật.

3.3. Diễn giải ý nghĩa hoa sen trong mỹ thuật thời Lý Trần

Sau khi phân tích hình thái và kỹ thuật, cần diễn giải ý nghĩa biểu tượng của hoa sen trong bối cảnh lịch sử và văn hóa cụ thể. Hoa sen có thể tượng trưng cho sự thanh khiết, giác ngộ, tái sinh, hoặc thể hiện lòng tôn kính đối với Phật pháp và các giá trị đạo đức. Ý nghĩa của hoa sen có thể thay đổi tùy theo ngữ cảnh và mục đích sử dụng.

IV. Đặc Điểm Nổi Bật Của Hoa Sen Trong Điêu Khắc Lý Trần Là Gì

Nghệ thuật hoa sen trong điêu khắc Lý - Trần mang những đặc điểm riêng biệt, thể hiện sự sáng tạo và tài năng của người nghệ sĩ Việt xưa. Hoa sen thường được thể hiện với đường nét mềm mại, uyển chuyển, thể hiện sự thanh thoát và tinh tế. Bố cục thường cân đối, hài hòa, tạo cảm giác trang nghiêm và thanh tịnh. Kỹ thuật chạm khắc tinh xảo, tỉ mỉ, thể hiện sự tôn trọng đối với Phật pháp và các giá trị tinh thần. Hoa sen trong điêu khắc Lý Trần trở thành một biểu tượng nghệ thuật độc đáo, góp phần làm nên bản sắc văn hóa Việt Nam.

4.1. Phân tích môtíp hoa sen trong các công trình điêu khắc tiêu biểu

Các công trình điêu khắc tiêu biểu như tượng Phật A Di Đà tại chùa Phật Tích, bệ đá kê chân cột chùa Một Cột là những ví dụ điển hình cho nghệ thuật hoa sen trong điêu khắc Lý - Trần. Môtíp hoa sen được thể hiện một cách tinh xảo, với đường nét mềm mại và bố cục cân đối. Kỹ thuật chạm khắc tỉ mỉ, thể hiện sự tôn trọng đối với Phật pháp và các giá trị tinh thần. Phân tích những hoa văn hoa sen giúp hiểu rõ hơn về phong cách nghệ thuật và kỹ thuật của người xưa.

4.2. So sánh hoa sen trong điêu khắc Lý Trần với các thời kỳ khác

So với hoa sen trong điêu khắc các thời kỳ khác, hoa sen trong điêu khắc Lý - Trần có những đặc điểm riêng biệt. Ví dụ, hoa sen thời Trần thường được thể hiện với đường nét khỏe khoắn, mạnh mẽ hơn so với thời Lý. Sự khác biệt này phản ánh sự thay đổi trong phong cách nghệ thuật và tư duy thẩm mỹ của người Việt qua các thời kỳ.

4.3. Tìm hiểu sự ảnh hưởng của Phật giáo đến điêu khắc hoa sen

Sự phát triển mạnh mẽ của Phật giáo thời Lý - Trần đã tạo điều kiện cho điêu khắc hoa sen đạt đến đỉnh cao nghệ thuật. Các công trình điêu khắc Phật giáo thường sử dụng mô típ hoa sen để trang trí bệ tượng Phật, diềm cửa, và các chi tiết kiến trúc khác. Hoa sen không chỉ là một hoa văn trang trí mà còn là biểu tượng của sự thanh tịnh và giác ngộ, thể hiện triết lý Phật giáo sâu sắc.

V. Ứng Dụng Nghệ Thuật Hoa Sen Vào Trang Trí Cơ Bản Như Thế Nào

Nghệ thuật hoa sen thời Lý - Trần không chỉ có giá trị lịch sử và văn hóa mà còn có thể được ứng dụng vào trang trí cơ bản hiện đại. Môtíp hoa sen có thể được sử dụng để tạo ra các sản phẩm trang trí nội thất, đồ thủ công mỹ nghệ, hoặc làm nguồn cảm hứng cho các thiết kế đồ họa. Việc ứng dụng hoa sen vào trang trí không chỉ mang lại vẻ đẹp thẩm mỹ mà còn giúp bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa.

5.1. Hướng dẫn cách cách điệu và sáng tạo hoa sen trong trang trí

Để ứng dụng hoa sen vào trang trí, cần có khả năng cách điệu và sáng tạo môtíp hoa sen một cách linh hoạt. Có thể thay đổi hình dáng, số lượng cánh hoa, màu sắc và bố cục để phù hợp với phong cách trang trí hiện đại. Tuy nhiên, cần giữ lại những đặc điểm cơ bản của hoa sen để không làm mất đi ý nghĩa biểu tượng và giá trị văn hóa.

5.2. Gợi ý sử dụng hoa sen trong các dự án thiết kế và trang trí

Hoa sen có thể được sử dụng trong nhiều dự án thiết kế và trang trí khác nhau. Ví dụ, có thể sử dụng hoa sen để trang trí tường, trần nhà, đồ nội thất, hoặc làm họa tiết trên vải, gốm sứ. Hoa sen cũng có thể được sử dụng trong thiết kế logo, banner, poster và các sản phẩm truyền thông khác. Điều quan trọng là phải lựa chọn hoa văn và màu sắc phù hợp với phong cách thiết kế và mục đích sử dụng.

VI. Tương Lai Của Nghệ Thuật Hoa Sen Lý Trần Bảo Tồn Phát Triển

Để bảo tồn và phát huy giá trị của nghệ thuật hoa sen Lý - Trần, cần có sự chung tay của các nhà nghiên cứu, nghệ sĩ, nhà quản lý văn hóa và cộng đồng. Cần tăng cường công tác nghiên cứu, sưu tầm, bảo tồn và phục dựng các di tích hoa sen cổ. Đồng thời, cần khuyến khích các nghệ sĩ sáng tạo ra các tác phẩm nghệ thuật mới, ứng dụng môtíp hoa sen vào cuộc sống hiện đại. Việc bảo tồn và phát triển nghệ thuật hoa sen không chỉ là trách nhiệm của thế hệ hiện tại mà còn là di sản quý giá để lại cho các thế hệ tương lai.

6.1. Giải pháp để bảo tồn di sản kiến trúc và điêu khắc hoa sen

Để bảo tồn di sản kiến trúc và điêu khắc hoa sen, cần có các giải pháp đồng bộ như: thực hiện khảo sát, đánh giá hiện trạng các di tích; lập quy hoạch bảo tồn và phục dựng; tăng cường nguồn lực đầu tư; nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ; và đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục. Cần chú trọng đến việc bảo tồn nguyên vẹn các yếu tố gốc cấu thành di tích và đảm bảo tính bền vững của công trình.

6.2. Đề xuất phát triển du lịch văn hóa gắn liền với hoa sen Lý Trần

Để phát triển du lịch văn hóa gắn liền với hoa sen Lý - Trần, cần xây dựng các tour du lịch khám phá các di tích hoa sen cổ; tổ chức các lễ hội, sự kiện văn hóa liên quan đến hoa sen; xây dựng các trung tâm trưng bày, giới thiệu về hoa sen và sản phẩm thủ công mỹ nghệ. Cần chú trọng đến việc tạo ra các trải nghiệm du lịch độc đáo, hấp dẫn và mang tính giáo dục cao.

23/05/2025
Hoa sen trong mỹ thuật thời lý trần vận dụng vào dạy môn trang trí cơ bản trường đại học sư phạm nghệ thuật trung ương

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn bao gồm 03 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn Chƣơng 2: Đặc trƣng hình tƣợng hoa sen trong mỹ thuật thời Lý - Trần. Chƣơng 3: Vận dụng hình tƣợng hoa sen thời Lý - Trần vào giảng dạy môn trang trí cơ bản cho sinh viên ngành mỹ thuật. 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Một số khái niệm 1.Tạo hình Tạo hình là thủ pháp sáng tạo nghệ thuật bằng ngôn ngữ hình khối, màu sắc, chất cảm, không gian, bố cục.

Theo nghĩa rộng, tạo hình bao gồm hoạt động hội họa và điêu khắc, mỹ thuật ứng dụng, kiến trúc, nhiếp ảnh. Theo nghĩa hẹp tạo hình là hoạt động thuộc hội họa giá vẽ và điêu khắc. Hội họa là nghệ thuật tạo hình trên mặt phẳng, các yếu tố đƣờng nét, màu sắc, hình diện. Điêu khắc là nghệ thuật tạo hình trong không gian ba chiều, bằng các khối thể tích.

Mĩ thuật ứng dụng và kiến trúc sử dụng các phƣơng diện tạo hình vào việc tạo dáng sản phẩm, sáng tạo môi trƣờng không gian mang giá trị thẩm mỹ và công năng [ 31- Tr 60]. Hình tƣợng Một đối tƣợng đƣợc sản sinh ra bằng hƣ cấu hay sự tƣởng tƣợng sáng tạo của nghệ sĩ theo những quan điểm thẩm mỹ nhất định giúp cho ngƣời hình dung đƣợc các sự vật, sự kiện, những con ngƣời, khả năng vốn có của chúng. Ở mỗi loại hình nghệ thuật, hình tƣợng đƣợc bộc lộ dƣới nhiều dạng khác nhau muôn hình muôn vẻ tùy theo lý tƣởng thẩm mỹ nói chung và quan điểm thẩm mĩ cụ thể của từng tác giả. Song dù khác nhau nhƣ thế nào, hình tƣợng vẫn có một cái chung, hình tƣợng là kết quả của một phƣơng thức tái tạo mộ đối tƣợng nào đó ( cong ngƣời, hoàn cảnh xã hội , cảnh vật, vv) với một dạng tƣơng đồng hoặc gần gũi và phù hợp với khả năng tồn tại khách quan của chúng.

Tùy theo tƣng thể loại, bộ môn có hình tƣợng con ngƣời nhƣ trong tác phẩm văn học, có hình tƣợng hoàn cảnh, hình tƣợng đồ vật, thiên nhiên vv. có cả hình tƣợng của những cảm xúc, cảm giác. Có hình tƣợng căn cứ vào hiện thực, lại có những hình tƣợng tuy cũng có sơ sở xa hoặc gân thực tế [30 tr 305]. Chạm khắc Chạm khắc là môn nghệ thuật mà ngƣời nghệ sĩ tác động vào hình khối gọn gàng, tinh tế nhất nhằm thể hiện 1 hay nhiều ý nghĩa của tác phẩm.

Chạm khắc với các kỹ thuật điêu khắc, đục xuống mặt các vật liệu (đá, gỗ, ngà, thạch cao…) để làm nổi bật lên các hình tƣợng nghệ thuật muốn diễn tả, ở sau phù điêu bằng chạm nổi. Các kỹ thuật chạm chủ yếu là chạm nổi (cao, vừa và thấp), chạm bong hay chạm kênh, chạm lộng hay chạm thủng. Những kỹ thuật này phổ biến trong mĩ thuật Việt Nam và Thế giới [29 – tr 401]. Không gian thị giác Phạm vi không gian hữu hình do con mắt nhìn thấy, có thể phản ánh sự thật hiện hữu, nhƣng cũng có thể là hệ quả của ảo giác.

Do đặc điểm nghệ thuật không nhất thiết diễn tả sự thật hiện hữu, mà có quyền hƣ cấu, nên các nghệ sĩ tạo hình từ lâu đã biết khai thác hiệu quả thị giác để tạo không gian giả. Nghệ thuật La mã cổ đại đã từng tạo nên phối cảnh vẽ lên vách tƣờng gây ấn tƣợng thoáng rộng hay uy nghi cho những căn phòng quy mô không lớn. Các họa sĩ, nhà điêu khắc và động hình Ôp-a (Op-Art) tận dụng tiềm năng thị giác của bố cục, ánh sáng, màu sắc để tạo dựng tác phẩm. Nhƣ vậy, nếu không gian nói chung là một thực thể khách quan, thì không gian thị giác của nghệ sĩ tạo hình là đối tƣợng xử lý, chủ động định hƣớng ngƣời xem tới một ý đồ định trƣớc [30; tr.

Trang trí Trang trí là một hình thái nghệ thuật đặc biệt của con ngƣời, là một phạm trù thẩm mỹ phục vụ cuộc sống con ngƣời, là nghệ thuật làm ra cái đẹp để thỏa mãn nhu cầu trƣớc hết là thông tin, giao tiếp với những ký hiệu gắn liền cùng sự tiến bộ và phát triển tất yếu của cuộc sống vật chất và tinh thần của con ngƣời. Trang trí là nghệ thuật bố trí, sắp xếp hình mảng, đƣờng nét, màu sắc, khối lƣợng. để tạo nên một vật phẩm đẹp và tiện nghi phục vụ cho nhu cầu đời sống tinh thần, thuận tiện cho lao động sản xuất, vui chơi, 9 giải trí của con ngƣời hàng ngày. Trang trí là nhu cầu trí tuệ, nó phản ánh sự phát triển về mặt văn hóa của mỗi ngƣời, xã hội, mỗi thời đại [].

Bối cảnh lịch sử và mỹ thuật thời Lý - Trần Triều đại nhà Lý từ (1010 - 1225) trong lịch sử dân tộc Việt Nam triều đại nhà Lý là một triều đại phát triển rực rỡ nhất với những thành tựu về văn hóa, kinh tế, đặc biệt là nghệ thuật mà trong đó mỹ thuật phát triển nhất với khối lƣợng tác phẩm đồ sộ. Ta phải kể đến sự phát triển của nghệ thuật trang trí với những nét khéo léo, uyển chuyển và tinh tế, sức sáng tạo vô biên và mới lạ của những ngƣời thợ chạm khắc. Tất cả đã tạo nên giá trị to lớn cho mỹ thuật thời Lý nói riêng và nền mỹ thuật Việt nam nói chung. Hoàn cảnh lịch sử của đất nƣớc đã tạo điều kiện thuận lợi cho nghệ thuật trang trí nói chung, trang trí thời Lý nói riêng phát triển không ngừng.

Thời Lý là giai đoạn thịnh đạt nhất của lịch sử phật giáo Việt Nam “ Nhân dân quá nửa làm sƣ sãi, trong nƣớc chỗ nào cũng có chùa” (theo nhà sử học Lê Văn Hƣu - Đời Trần). Các công trình nghệ thuật đƣợc xây dựng trong giai đoạn này chủ yếu là phục vụ Phật giáo, rất nhiều chùa tháp đƣợc xây dựng khắp nơi trong nƣớc. Ngay từ những triều vua đầu thời Lý, đế đô Thăng Long đã đƣợc xây dựng với quy mô rộng lớn, có thể là rộng lớn nhất trong các triều đại phong kiến, với nhiều kiến trúc trạm trổ trang sức khéo léo, công trình gỗ mộc đẹp đẽ xƣa chƣa từng có, cung điện nguy nga tráng lệ cao bốn tầng, “ các tầng gác đều sơn son, cột có vẽ rồng, hạc và tiên nữ” trong sử sách và bia kí còn mô tả lại nhiều ngôi chùa lớn trong nội thành nhƣ chùa Thắng Nghiêm (xây dựng năm 1010), chùa Tứ Đại Thiên Vƣơng (xây dựng năm 1011), chùa Chân Giáo (xây dựng năm 1024) chùa Diên Hựu hay cò gọi là chùa Một cột (xây dựng năm 1049), chùa Nhị Thiên Vƣơng (xây dựng năm 1070)… Tháp Báo Thiên (xây dựng năm 1057) là một trong “tứ đại khí” của nƣớc Đại việt, cao vài mƣơi trƣợng (khoảng trên 60 mét) gồm 12 tầng, các tầng trên đều bằng đồng, ở trong bày nhiều tƣợng 10 phật, kim cƣơng, vũ nữ và chim thú. Đặc biệt trong thành nhà Lý (Khu Ba Đình – Hà Nội ngày nay) vẫn còn tìm đƣợc nhiều di vật quý giá – những tác phẩm trang trí phục vụ kiến trúc – bằng đá, đất nung và gốm sứ.

Đề tài chạm khắc thƣờng mô tả thiên nhiên với những họa tiết sóng nƣớc, hoa sen, hoa cúc, hoa mẫu đơn đã đƣợc cách điệu hóa cao; hình các con vật nhƣ rồng, phƣợng, sƣ tử, … hoặc hình các vũ nữ uyển chuyển, thanh thoát. Những di vật phong phú này đƣợc chạm trổ hết sức công phu với những đƣờng cong mềm mại, dẻo và chắc, có năng lực diễn tả rất sinh động. Trình độ tay nghề của ngƣời thợ khá cao, có một phong cách nghệ thuật đặc sắc riêng của thời Lý. Qua nhiều biến động của lịch sử, đặc biệt qua các cuộc chống ngoại xâm liên tiếp ở các thế kỷ sau, những công trình nghệ thuật thời Lý ở đế đô Thăng Long đã bị phá hoại hết sức nặng nề.

Nay còn lại một số công trình, tiêu biểu là chùa Phật Tích (huyện Tiên Sơn – Bắc Ninh) đƣợc xây dựng vào năm 1057. Giữa chùa “dựng tháp báu cao ngàn trƣợng” “trang hoàng rực rỡ nhƣ ngọc”. Trong đó có pho tƣợng Phật Adida tĩnh tọa trên tòa sen bằng đá, là pho tƣợng lớn nhất và cổ nhất còn lại tƣơng đối nguyên vẹn đến ngày nay. Trong chùa cũng có tƣợng Adida bằng đá để ở giữa gian thờ chính.

Dụng ý táo bạo thể hiện trong nhịp điệu tƣơng phản giữa phần thân tƣợng và bệ đã chứng minh khả năng sáng tạo của ngƣời thợ chạm thời Lý. Đây là một công trình chạm khắc tinh xảo, mà quan sát thật kĩ ta có thể thấy lại hình vẽ khởi đầu của việc chạm [Pl 1a,b,c,d; tr. Nhà Lý phát triển thịnh trị vào đời vua Lý Nhân Tông (1072 - 1127), sau đó bắt đầu đi vào con đƣờng suy yếu. Ngày 12 tháng chạp năm Ất Dậu (11/1/1226) dƣới sự chỉ đạo của Trần Thủ Độ, Lý Chiêu Hoàng tuyên bố nhƣờng ngôi cho chồng là Trần Cảnh, Trần Cảnh lên ngôi lấy hiệu là Trần Thánh Tông.

Triều Trần chính thức đƣợc thành lập, thực sự thay thế nhà Lý 11 trên vũ đài chính trị, nắm quyền điều hành đất nƣớc từ 1226 đến 1400. Mỹ thuật thời nhà Trần thực tế là sự nối tiếp và phát triển mỹ thuật thời nhà Lý nhƣng cách tạo hình lại khoáng đạt và khỏe khoắn hơn. Yếu tố mà đã tạo nên nét đặc trƣng đó là sự giao lƣu văn hoá rộng rãi, tinh thần thƣợng võ đƣợc phát huy mạnh mẽ qua các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm chống quân Mông Nguyên (Trung Quốc). Trong giai đoạn nắm giữ quyền lực, nhà Trần vẫn đóng đô ở Thăng Long - kinh đô triều cũ, tiếp tục mở rộng và phát triển sự hƣng thịnh có từ đời nhà Lý.

Về chính sách chính trị, các hoàng đế nhà Trần cũng xây dựng bộ máy nhà nƣớc hoàn thiện hơn so với nhà Lý, họ tạo nên một hệ thống đặc biệt trong đó các Hoàng đế sẽ sớm nhƣờng ngôi cho Thái tử mà lui về làm Thái thƣợng hoàng, tuy nhiên vẫn cùng vị Hoàng đế mới điều hành chính sự. Việc này đƣợc đánh giá là tích cực, khi ngôi Hoàng đế sớm có chủ, tránh đƣợc việc tranh giành ngôi vua nhƣ triều đại nhà Lý trƣớc đó; và bản thân vị Hoàng đế sẽ tiếp xúc và làm quen việc cai trị cho đến khi trƣởng thành. Các mặt kinh tế, xã hội, giáo dục và nghệ thuật cũng hoàn chỉnh hơn và cho thấy Nho giáo, Đạo giáo đã có ảnh hƣởng rõ rệt tới triều đại, tạo ra cục diện Tam giáo đồng nguyên, sự cân bằng ảnh hƣởng của Phật giáo - Nho giáo - Đạo giáo.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ