phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của bài luận văn gồm có 3 chƣơng nhƣ sau : Chƣơng I : Lý thuyết chung về marketing truyền thông xã hội. Chƣơng II : Thực trạng hoạt động marketing truyền thông xã hội trên thế giới và tại Việt Nam. Chƣơng III : Một số giải pháp phát triển hoạt động marketing truyền thông xã hội tại Việt Nam. Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn PGS, TS Nguyễn Thanh Bình đã tận tình hƣớng dẫn và giúp đỡ em trong suốt quá trình làm luận văn.
Đồng thời, em xin gửi lời cám ơn tới toàn thể các thầy cô giáo trƣờng Đại học Ngoại Thƣơng đã dìu dắt, chỉ bảo và trau dồi kiến thức cho chúng em trong suốt 4 năm ngồi trên ghế nhà trƣờng. Với kiến thức còn hạn chế, lại tiếp cận với một để tài còn mới mẻ, chắc chắn bài luận văn của em còn chứa nhiều sai sót. Em rất mong sẽ nhận đƣợc những ý 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khoa kinh tế & kinh doanh quốc tế Trƣờng ĐH Ngoại Thƣơng kiến đóng góp và chỉ bảo quý báu từ các thầy cô để bài luận văn của em đƣợc hoàn thiện hơn và mang tính thực tiễn cao hơn. Hà Nội, tháng 5 năm 2010 Sinh viên thực hiện Hoàng Ngân Hà.
3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khoa kinh tế & kinh doanh quốc tế Trƣờng ĐH Ngoại Thƣơng CHƢƠNG I : LÝ THUYẾT CHUNG VỀ MARKETING TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI 1. Khái niệm và đặc điểm của marketing truyền thông xã hội 1. Khái niệm của marketing truyền thông xã hội 1. Khái niệm truyền thông xã hội Ngày nay, “truyền thông xã hội” (Social Media) là một trong những thuật ngữ đƣợc nhắc đến ngày càng nhiều trong lĩnh vực truyền thông và marketing.
Ngƣời ta coi truyền thông xã hội nhƣ một hƣớng đi mới cho truyền thông thế giới, khác biệt với truyền thông đại chúng. Mặc dù thu hút đƣợc nhiều sự chú ý và quan tâm của dƣ luận nhƣ vậy song một trong những câu hỏi cơ bản nhất về khái niệm này lại vẫn còn bỏ ngỏ, chƣa có câu trả lời thống nhất và chính xác. Đó chính là câu hỏi : “Truyền thông xã hội là gì?” Cho đến nay, thực ra cũng đã có không ít những nỗ lực cố gắng định nghĩa khái niệm mới mẻ và thú vị này. Tuy nhiên, chƣa một định nghĩa nào trong số đó đƣợc các chuyên gia marketing nói riêng và những ngƣời quan tâm nói chung coi là hoàn chỉnh và thỏa đáng.
Có thể kể ra một số định nghĩa phổ biến nhất và đƣợc đa số tƣơng đối tán thành : Theo trang web Wikipedia , truyền thông xã hội đƣợc định nghĩa là : “kênh truyền thông được thiết kế để truyền đạt thông tin thông qua các tương tác xã hội, được tạo ra bằng cách sử dụng các kĩ thuật xuất bản có phạm vi rộng và sức ảnh hưởng mạnh mẽ. Truyền thông xã hội sử dụng các công nghệ dựa trên nền tảng web để chuyển đổi hình thức độc thoại trong truyền thông đại chúng sang hình thức đối thoại.” 1 Còn theo giáo sƣ marketing Andreas Kaplan đến từ trƣờng Đại học kinh tế ESCP Europe và ngƣời đồng nghiệp Michael Haenlein đề cập đến trong cuốn sách “Users of the world, unite! The challenges and opportunities of Social 1 Wikipedia (2010) , http://en.org/wiki/Social_media, “media designed to be disseminated through social interaction, using highly accessible and scalable publishing techniques. Social media use web-based technologies to transform and broadcast media monologues into social media dialogues” , 10/02/2010. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khoa kinh tế & kinh doanh quốc tế Trƣờng ĐH Ngoại Thƣơng Media” (2010), NXB Business Horizon thì truyền thông xã hội là : “một nhóm các công cụ trên mạng Internet được xây dựng dựa trên nền tảng ý tưởng và công nghệ của Web 2.
Nó cho phép tạo ra và trao đổi những nội dung do người sử dụng tự sản xuất (user-generated content)” 2 Một khái niệm truyền thông xã hội nữa cũng thu hút đƣợc khá nhiều sự chú ý từ phía những ngƣời quan tâm là khái niệm của Joseph Thorley – Giám đốc điều hành của công ty Thorley Fallis. Theo ông này, truyền thông xã hội là : “các phương tiện truyền thông trực tuyến trong đó có sự di chuyển linh hoạt giữa vai trò tác giả và khán giả của các cá nhân tham gia. Để làm được điều này, chúng sử dụng các phần mềm mang tính xã hội cho phép cả những người không chuyên có thể đăng tải, bình luận, chia sẻ hay thay đổi nội dung từ đó hình thành nên những cộng đồng cùng chung sở thích.” 3 Tóm lại, mặc dù tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau song nhìn chung khái niệm truyền thông xã hội bao gồm một số điểm cơ bản sau : Thứ nhất, truyền thông xã hội là một hình thức truyền thông đƣợc hình thành và phát triển dựa trên nền tảng web, cụ thể ở đây là web 2.0 (thế hệ web thứ hai với nhiều ƣu điểm nổi bật hơn so với web 1.0) và sử dụng các công cụ của mạng Internet để truyền đạt thông tin. Thứ hai, truyền thông xã hội có sự khác nhau cơ bản khi so sánh với truyền thông đại chúng (Mass Media) – hình thức truyền thông truyền thống đã tồn tại từ rất lâu.
Điểm khác biệt này chủ yếu thể hiện ở các điểm sau : (1) Trong truyền thông đại chúng, thông tin đƣợc cung cấp theo một chiều, từ phía các phƣơng tiện nhƣ báo, tạp chí, các kênh phát thanh, truyền hình đến phía độc giả hay khán thính giả. Quá trình cung cấp thông tin một chiều này tạo nên “tính độc thoại” (one-to-many) trong truyền thông đại chúng. Trong khi đó, các 2 Wikipedia (2010) , http://en.org/wiki/Social_media, "a group of Internet-based applications that build on the ideological and technological foundations of Web 2.0, and that allow the creation and exchange of user-generated content”, 10/02/2010. 3 Pro PR (2008), http://propr.ca/2008/what-is-social-media/, “online comunications in which individuals shift fluidly and flexibly between the role of audience and author.
To do this, they use social software that enables anyone without knowledge of coding to post, comment on, share or mash up content and to form communities around shared interests”, 11/02/2010. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khoa kinh tế & kinh doanh quốc tế Trƣờng ĐH Ngoại Thƣơng phƣơng tiện của truyền thông xã hội nhƣ mạng xã hội, blog, diễn đàn lại cho phép thông tin đƣợc cung cấp và chia sẻ nhiều chiều giữa ngƣời sản xuất nội dung và những ngƣời khác. Đó chính là “tính đối thoại” (many-to-many) trong truyền thông xã hội. (2) Đa số các tác giả tham gia vào việc sản xuất và cung cấp thông tin trên các phƣơng tiện truyền thông đại chúng đều phải qua đào tạo.
Họ là những nhà báo, phóng viên đƣa tin chuyên nghiệp. Trong khi đó, vào thời kì bùng nổ Internet hiện nay, bất kể ai, dù có hay không có chuyên môn cũng có thể tham gia sản xuất, cung cấp thông tin trên các phƣơng tiện truyền thông xã hội. Đây là hiện tƣợng ngƣời dùng tự sản xuất nội dung (user-generated content) đã đề cập đến ở trên. (3) Nếu nhƣ việc xuất bản thông tin trong truyền thông đại chúng thƣờng theo các kì nhất định (theo ngày, theo tuần thậm chí là tháng) thì việc xuất bản thông tin trong truyền thông xã hội có thể xảy ra bất cứ lúc nào.
Một trang blog có thể đăng tải 5-6 bài viết một ngày hay 3-4 ngày mới xuất hiện một bài viết mới, không cần theo khuôn mẫu nào cả. (4) Thông tin trong truyền thông đại chúng một khi đã xuất bản và không may phát hiện ra sai sót thì phải đăng đính chính trong các lần xuất bản tiếp theo. Trong khi nếu điều này xảy ra trong truyền thông xã hội, vấn đề có thể nhanh chóng đƣợc giải quyết bằng việc đăng tải các bình luận hay sửa chữa trực tiếp, ví dụ tác giả chỉnh sửa nội dung của bài viết trên blog, trên diễn đàn. Với những đặc điểm khác biệt nhƣ trên khi so sánh với truyền thông đại chúng, nhiều chuyên gia hiện nay còn sử dụng các thuật ngữ ngắn gọn để nói về truyền thông xã hội nhƣ “Hậu truyền thông đại chúng” (Post Mass Media) hay “Sự dân chủ hóa kiến thức” (The democratizaton of knowledge) – nhằm nhấn mạnh đến việc trao quyền sản xuất và cung cấp thông tin cho tất cả mọi ngƣời.
Khái niệm marketing truyền thông xã hội Đối với đối tƣợng doanh nghiệp, truyền thông xã hội thƣờng đƣợc sử dụng trong hoạt động marketing nhằm giúp doanh nghiệp tiếp cận khách hàng mục tiêu của mình. Việc các chuyên gia marketing tìm đến với truyền thông xã hội đang ngày càng trở nên phổ biến, thậm chí nhiều chuyên gia còn cho rằng đây là hƣớng 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khoa kinh tế & kinh doanh quốc tế Trƣờng ĐH Ngoại Thƣơng đi mới của marketing trong tƣơng lai. Cũng từ đó, một khái niệm mới đã xuất hiện bên cạnh khái niệm truyền thông xã hội. Đó chính là marketing truyền thông xã hội (Social Media Marketing).
Do tính chất mới mẻ của loại hình marketing này mà hiện cũng tồn tại nhiều cách định nghĩa khác nhau cho khái niệm này. Có thể kể ra một số ví dụ tiêu biểu : Theo trang web Wikipedia, marketing truyền thông xã hội là : “một thuật ngữ miêu tả việc sử dụng các mạng xã hội, các cộng đồng trực tuyến, blog, wiki hay bất kì các phương tiện truyền thông tương tác trực tuyến khác phục vụ cho mục đích marketing, bán hàng, quan hệ công chúng và dịch vụ khách hàng.” 4 Còn theo trang web Formic Media, marketing truyền thông xã hội là : “một dạng của marketing trực tuyến được sử dụng nhằm đạt được các mục tiêu marketing và thương hiệu thông qua việc tham gia vào các mạng xã hội khác nhau (MySpace, Facebook, LinkedIn), các mạng đánh dấu và lưu trữ đường link (Digg, Stumbleupon), các mạng chia sẻ (Flickr, YouTube), các trang web đánh giá (ePinions, BizRate), các blog, diễn đàn, hệ thống đọc tin trực tuyến và mạng ảo 3D (SecondLife, ActiveWorlds).”5 Có thể nhắc tới một định nghĩa khác cũng khá tƣơng đồng với định nghĩa trên từ trang web Internet marketing & Website design. Theo đó, marketing truyền thông xã hội là : “một chiến lược marketing trực tuyến cụ thể dựa trên việc sử dụng các website truyền thông xã hội như Twitter, Digg, YouTube, StumbleUpon,….” 6 Nhìn chung các khái niệm marketing truyền thông xã hội nêu trên đều đƣợc định nghĩa dựa vào các công cụ mà loại hình marketing này thƣờng sử dụng. Để hiểu rõ hơn khái niệm này cần phải nhấn mạnh và lƣu ý một số điểm sau : 4 Wikipedia (2010), http://en.org/wiki/Social_media_marketing , “a term that describes use of social networks, online communities, blogs, wikis or any other online collaborative media for marketing, sales, public relations and customer service”, 12/02/2010.
5 Formic Media (2010), http://www.com/sem-glossary.