mở đầu trang sử độc lập cho đất nước và xác lập nền tự chủ của dân tộc. Tuy nhiên, với âm mưu bành trướng của mình, bọn thống trị phong kiến đã không rời bỏ vùng đất chiếm đóng ở phương Nam. Ngược lại, chúng dùng mọi âm mưu, thủ đoạn, thậm chí đem quân sang xâm lược nước ta hòng thực hiện ý đồ của mình. Trước âm mưu xâm lược của nước ngoài, với truyền thống yêu nước cùng tinh thần đấu tranh bất khuất được hun đúc trong hơn 10 thế kỷ đấu tranh giải phóng dân tộc, quân dân ta dưới sự lãnh đạo của Ngô quyền đã làm nên chiến công lẫy lừng trên sông Bạch Đằng vào năm 938.
Chiến thắng này đã đập tan âm mưu xâm lược của quân Nam Hán, tạo cơ sở để Ngô Quyền phát triển chính quyền tự chủ của họ Khúc, họ Dương thành chính quyền độc lập, chấm dứt hoàn toàn thời Bắc thuộc kéo dài trên nghìn năm. Bên cạnh đó, chiến công lẫy lừng này còn khẳng định việc hoàn thành sự nghiệp đấu GVHD: TS. Hà Thanh Vân SVTH: Huỳnh Thị Thu Thảo 15 tranh giành độc lập, mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc – kỷ nguyên độc lập dân tộc dưới chế độ phong kiến. Mùa xuân năm Kỷ Hợi (939), sau chiến thắng quân Nam Hán, Ngô quyền xưng vương, xây dựng chính quyền mới đóng đô ở Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội).
Nhưng nhà Ngô tồn tại không bao lâu, sự việc các sứ quân đứng lên nổi dậy tranh giành quyền cai quản lãnh thổ đã tạo nên loạn 12 sứ quân gây rối loạn xã hội. Trước tình hình đó, Đinh Bộ Lĩnh đứng ra dẹp loạn, thiết lập lại trật tự cho đất nước và thành lập nên vương triều nhà Đinh (968 – 980). Không bao lâu sau Đinh Tiên Hoàng mất, vì con còn nhỏ nên lúc này Thái hậu Dương Vân Nga là người nắm quyền nhiếp chính. Cũng trong lúc này, bên ngoài giặc phương Bắc bắt đầu lâm le xâm lấn đất nước, trong nước nhiều âm mưu nổi loạn cũng tỏ rõ động thái của mình.
Hiểu được tình thế, Thái hậu Dương Vân Nga đã mạnh dạn nhường ngôi lại cho Thập đạo tướng quân Lê Hoàn để chỉnh đốn lại đất nước. Lê Hoàn lên ngôi và lập nên nhà Tiền Lê (980 – 1009). Nhà Tiền Lê tồn tại 29 năm, trải qua tất cả ba đời vua và chấm dứt khi Lê Ngọa Triều qua đời. Tiếp nối nhà Tiền Lê, đó là nhà Lý.
Triều đại này bắt đầu từ năm 1009, khi Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế sau việc giành được quyền lực từ tay nhà Tiền Lê. Đến năm 1010, Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long. Năm 1054, Lý Thánh Tông đổi tên nước thành Đại Việt. Giai đoạn từ thế kỉ XI đến giữa thế kỉ XIV, đất nước phát triển thịnh vượng, phồn vinh.
Thế nhưng từ cuối thế kỉ XIV, chính quyền không chăm lo đời sống nhân dân, quan lại ăn chơi sa doạ, kinh tế khủng hoảng, mất mùa, nông dân li tán. Một số thế lực phong kiến địa phương nổi dậy, nhà Lý buộc phải dựa vào thế lực họ Trần để chống lại các lực lượng nổi loạn. Năm 1225, Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh. Tổng cộng nhà Lý tồn tại được 216 năm.
Trần Cảnh mặc dù được nhường ngôi thế nhưng lúc này vua vẫn còn nhỏ, mọi việc trong triều đều do Thái sư Trần Thủ Độ và cha là Trần Chính lo liệu. Dưới sự trị vì của các vị vua anh minh như Trần Thánh Tông, Trần Anh Tông đất nước vẫn phát triển GVHD: TS. Hà Thanh Vân SVTH: Huỳnh Thị Thu Thảo 16 thịnh vượng. Cho đến đời Trần Dụ Tông, khi Thượng hoàng Minh Tông băng hà, ông trở nên bỏ bê chính sự, ham mê tửu sắc, ra lệnh cho xây cung điện, tạo sưu cao, thuế nặng làm cho nhân dân vô cùng khổ sở và ca thán.
Trong nước, giặc giã nổi lên khắp nơi. Trong khi đó tại triều đình, các bọn gian thần kéo bè kết đảng và trở nên lộng hành vô cùng. Năm 1369, Trần Dụ Tông băng hà, Trần Nhật Lễ được chọn là người kế thừa. Thế nhưng “cha nào con nấy”, Nhật Lễ cũng chẳng khác gì Dụ Tông, ông bỏ bê chính sự, ham mê tửu sắc, hằng ngày chỉ rong chơi, thích trò hát xướng.
Năm 1370, Nhật Lễ bị lật đổ, Trần Phủ (Trần Nghệ Tông) lên thay. Nghệ Hoàng giữ ngai vị được 2 năm, lên làm Thái thượng hoàng và nhường ngôi cho em là Trần Kính (Trần Duệ Tông). Năm 1377, Duệ Tông tử trận ở Chiêm Thành, Nghệ Hoàng lập con Duệ Tông là Trần Hiện lên thay, sử gọi là Trần Phế Đế. Thượng hoàng Nghệ Tông nắm quyền trong tay và quyết định mọi việc, thế nhưng lại quá tin dùng một mình Hồ Quý Ly.
Vì có mưu đồ soán đoạt ngôi vị mà lại được sự tin dùng của Nghệ Tông, nên Hồ Quý Ly đã tạo được khá nhiều phe cánh và bè đảng ở triều đình và khắp mọi nơi. Năm 1394, Nghệ Hoàng băng hà. Đến năm 1400, Hồ Quý Ly chiếm ngôi nhà Trần, lập nên nhà Hồ. Sau khi lên ngôi, Hồ Quý Ly đổi tên nước từ Đại Việt thành Đại Ngu.
Nhà Hồ tồn tại được 7 năm, chấm dứt khi Hồ Hán Thương bị quân Minh bắt vào năm 1407. Sau 500 năm giành được quyền tự chủ, Việt Nam lại một lần nữa bị mất vào tay Trung Quốc. Năm 1418, trước tình cảnh nguy khốn của đất nước, Lê Lợi cùng với các hào kiệt cùng chung chí hướng phất cờ khởi nghĩa Lam Sơn. Trong suốt mười năm chiến đấu anh dũng, đến năm 1427, với chiến thắng Chi Lăng Xương Giang, dân ta đã đánh đuổi được giặc Minh ra khỏi bờ cõi của đất nước, giành lại độc lập, tự chủ cho nước nhà.
Lê Lợi sau đó lên ngôi hoàng đế vào năm 1428 và lập nên nhà Lê. Nước Đại Việt thời Hậu Lê tồn tại được 360 năm (từ năm 1428-1789), là một trong những triều đại phong kiến tồn tại lâu dài và cường thịnh nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Hà Thanh Vân SVTH: Huỳnh Thị Thu Thảo 17 Trải quá quá trình phát triển của lịch sử, chế độ phong kiến Việt Nam đã có những bước tiến vượt bậc. Từ lúc mới manh nha hình thành với chính quyền đơn giản, sơ khai, cho đến khi đất nước đạt đến sự phát triển hưng thịnh dưới thời Hậu Lê, tất cả đã phản ánh một cách sống động quá trình đi lên của lịch sử dân tộc.
Vì cơ bản Thần đồng đất Việt lấy bối cảnh các sự việc diễn ra trong truyện từ thế kỉ X đến thế kỉ XV là chủ yếu, nên người viết chỉ xin trình bày những nét chính về quá trình hình thành và phát triển của chế độ phong kiến Việt Nam trong giai đoạn này. Với những điều vừa nêu, đó là cơ sở lí luận về quá trình hình thành và phát triển của chế độ phong kiến Việt Nam với cái nhìn tổng quan nhất về mặt lí thuyết. Ở phần trình bày tiếp theo, người viết sẽ phân tích một số đặc điểm của chế độ phong kiến Việt nam để làm rõ quá trình xác lập của nó. Đặc điểm chế độ phong kiến Việt Nam Trong từng nước và từng khu vực, với những đặc điểm chính trị xã hội khác nhau, chế độ phong kiến cũng vì vậy mà mang những đặc điểm riêng đặc trưng của từng vùng.
Việt Nam trải qua quá trình hình thành, xác lập và phát triển gắn liền với các triều đại phong kiến trong một khoảng thời gian dài. Chính điều này đã tạo tiền đề cho chế độ phong kiến nhà nước quan liêu sớm hình thành và phát triển. Trong đó, việc hoàn thiện và chuyển đổi cơ cấu từ giai đoạn tiền mô hình, mô hình cho đến hậu mô hình đóng một vai trò vô cùng quan trọng. Giai đoạn tiền mô hình có thể được coi là bắt đầu từ thời Lý – Trần – Hồ.
Vào thời Lý-Trần, không chỉ là vua và quan lại mà ngay từ nhỏ, các vị thái tử cùng với con cái của các quan lại trong triều đã sớm được tiếp xúc với những kiến thức văn hóa, lịch sử Trung Hoa. Chính vì vậy, vô hình trung điều này đã tạo nên những ảnh hưởng nhất định trong suy nghĩ cũng như cách quản lí đất nước của họ. Cụ thể, từ việc mô phỏng mô hình quản lí của Trung Hoacho đến việc biến Nho giáo từ một nền văn hoá chính GVHD: TS. Hà Thanh Vân SVTH: Huỳnh Thị Thu Thảo 18 trị - giáo dục dần dần trở thành một hệ tư tưởng chính trị - xã hội đã cho thấy rõ điều đó.
Tuy nhiên, do đặc điểm xã hội của mỗi quốc gia khác nhau nên việc áp dụng mô hình quản lí cũng cần thiết lập sao cho phù hợp. Có thể thấy, việc mô phỏng mô hình quản lí của Trung Hoa một cách khuôn mẫu mà không có sự điều chỉnh là một sai lầm trong chính sách quản lí của vua quan lúc bấy giờ. Cụ thể, với mô hình thiết chế chính trị - hệ tư tưởng lúc bấy giờ vẫn còn quá rộng và đi trước so với thực thể đời sống xã hội, chế độ quan liêu cồng kềnh mô phỏng Trung Quốc tỏ ra không thích hợp với một nước nhỏ như Đại Việt. Mặc dù có một khoảng cách biệt khá lớn giữa mô hình thiết chế và thực thể đời sống, tuy nhiên độ chênh này là hoàn toàn có thể cải thiện để đi tới sự phù hợp.
Đó sẽ là một bước đi để tiếp cận gần hơn với mô hình. Đến thế kỉ XV, dưới thời Lê sơ, trên cơ sở những thành quả của cuộc kháng chiến chống Minh và những chuyển biến xã hội Đại Việt dưới thời thuộc Minh, chế độ phong kiến nhà nước quan liêu Việt Nam đã phát triển tới giai đoạn mô hình. Các nhà vua đầu triều Lê, điển hình là Lê Thánh Tông, trong việc xây dựng nhà nước quân chủ tập quyền cao đã áp dụng mô hình thiết chế chính trị-tư tưởng Nho giáo một cách có hiệu quả để xây dựng đất nước. Các vua Lê đã thi hành chính sách “sùng Nho trọng Đạo là việc hàng đầu”, và nghiễm nhiên Nho giáo trở thành hệ tư tưởng chính thống, độc tôn và thống trị tinh thần trong xã hội lúc bấy giờ.
Tuy nhiên, trên thực tế, trong thế ổn định, đã có ẩn chứa những dấu hiệu của sự trì trệ và những yếu tố bất ổn định. Chính những điều này đã dần dần đưa xã hội đến tình thế chao đảo. Điều này được minh chứng một cách cụ thể, rõ ràng với việc vương triều Lê sơ thịnh trị là vậy nhưng cũng đã sụp đổ sau đó mấy thập kỷkhi Mạc Đăng Dung cướp ngôi.