BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRUỜNG ĐẠI HỌC DÂN LẬP HẢI PHÒNG ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TÌM HIỂU LỄ ĂN TRÂU (ĐÂM TRÂU) CỦA MỘT SỐ TỘC NGUỜI THIỂU SỐ Ở TÂY NGUYÊN PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU LỊCH Chủ nhiệm đề tài: Trần Thị Thim Lớp : VH1101 GV huớng dẫn: Th.S Phạm Thị Hoàng Điệp Hải Phòng 2011 1 LỜI NÓI ĐẦU 1. Tây Nguyên - , ngƣời ay đến c , con các c - Tây Nguyên 'du và các vị thần khác nhằm tạ ơn thần linh đã phù hộ, độ trì cho bà con dân làng trong một năm qua làm ăn đƣợc mùa, con cháu khoẻ mạnh. Đó chính là nội dung và ý nghĩa của lễ “Sa-rơ-pu” (ăn trâu) mà ngƣời miền xuôi thƣờng gọi là tết Thƣợng hay lễ Đâm Trâu, đƣợc tổ chức từ tháng 12 cho đến tháng 3 âm lịch. Lễ hội Đâm trâu với biểu tƣợng “cây nêu thần” là một sinh hoạt văn hóa dân gian nổi bật, mang tính tổng hợp cao, xuất phát từ ý niệm mong muốn một cuộc sống ấm no, hạnh phúc đã dần dần trở thành một nghi lễ độc đáo trong các ngày hội của các buôn làng Tây Nguyên nhƣ lễ hội mừng lúa mới, mừng nhà rông, mừng đƣợc mùa.
Đây là những ngày hội thực sự mang những nét văn hóa truyền thống, thể hiện rõ yếu tố cộng đồng, tình yêu thiên nhiên, sự ngƣỡng vọng thần linh đƣợc gắn kết với nhau chặt chẽ, là sự kế tục truyền thống văn hóa xa xƣa của ngƣời Tây Nguyên. Nhiều loại hình dân gian đƣợc huy động tham gia vào lễ hội này nhƣ âm nhạc, sân khấu, múa hát, múa kiếm, nghệ thuật tạo hình… Với những nét đặc sắc nhƣ trên, có thể coi Lễ ăn trâu (Lễ đâm trâu) là một trong những tài nguyên văn hóa có giá trị, cần đƣợc tìm hiểu một cách hệ thống và đƣa vào khai thác hiệu quả trong du lịch, góp phần phát triển du lịch văn hóa ở Tây Nguyên. Đó cũng là lý do chính để ngƣời viết lựa chọn đề tài “Tìm hiểu 2 ăn trâu (đâm trâu) ở Tây Nguyên phục vụ phát triển du l ” cho công trình nghiên cứu khoa học đầu tay của mình. Mục đích đầu tiên của đ nhằm những nét đặc trƣng nhất về , Tây Nguyên, trên cơ sở đó kết nối với nghi lễ đâm trâu và việc tổ chức lễ đâm trâu trong các lễ hội quan trọng của buôn làng Tây Nguyên.
Mục đích thứ hai là tập trung đến , từ đó đi sâu làm rõ. Mục đích cuối cùng là trên cơ sở việc phân tích tƣ liệu và thực trạng khai thác Lễ đâm trâu hiện nay, tiến tới áp một cách hiệu quả mà. Với những mục đích trên, ngƣời viết hy vọng đề tài này trƣớc hết sẽ mang lại một cái nhìn tổng quan và hệ thống về nghi lễ đâm trâu của các tộc ngƣời thiểu số ở Tây Nguyên, có thể ,đ thêm đa dạng mà độc đáo của đất nƣớc. Bên cạnh đó, đề tài cũng góp thêm một góc nhìn khác về việc khai thác nghi lễ truyền thống trong kinh doanh du lịch tránh hiện tƣợng bị thƣơng mại hóa.
Lễ Đâm trâu (Ăn trâu) là một nghi lễ khá phổ biến, có mặt trong rất nhiều lễ hội quan trọng trên dải đất Tây Nguyên cho nên đã có rất nhiều tác giả tìm hiểu và giới thiệu về nghi lễ này một cách cụ thể hoặc là sơ lƣợc thông qua một số lễ hội khác nhƣ: “Mùa xuân với lễ hội Đâm trâu” của Nguyễn Văn Chƣơng, NXB Khoa Học Xã Hội xuất bản năm 2004 đã giới thiệu một cách cụ thể và khá đầy đủ về Lễ hội này. 3 Trong cuốn “Lễ hội Bỏ mả( Pơ thi) các dân tộc bắc Tây Nguyên: Dân tộc Giarai - Bana”, (NXB Văn hóa dân tộc, 1995), tác giả Ngô Văn Doanh cũng đề cập ít nhiều đến việc chuẩn bị nghi lễ đâm trâu nhƣ một trong những nghi lễ chính yếu của Lễ bỏ mả của các tộc ngƣời Gia rai và Bana. Trong tác phẩm “Lễ hội Tây Nguyên”, (NXB Thế Giới, 2008), các tác giả Trần Phong, Nguyên Ngọc đã giới thiệu gần nhƣ trọn vẹn về những lễ hội cổ truyền của các tộc ngƣời sống trên suốt dải đất Trƣờng Sơn - Tây Nguyên và nhƣ một phần tất yếu, họ cũng đã đề cập đến Lễ hội đâm trâu của một vài tộc ngƣời nhƣ Ê đê, Ba na với những nét độc đáo và giá trị đặc sắc. Tuy nhiên hầu hết các tác phẩm kể trên chƣa cho thấy đƣợc sự khác biệt trong nghi lễ tổ chức của từng tộc ngƣời ở Tây Nguyên, đặc biệt là chƣa đề cập đến việc khai thác nghi lễ này nhƣ một sản phẩm du lịch văn hóa giàu tiềm năng của mảnh đất “nắng lửa mƣa ngàn”.
Trong đề tài này, ngƣời viết đã sử dụng các sau: - Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu: Là phƣơng pháp chính đƣợc sử dụng trong đề tài. Trên cơ sở thu thập thông tin tƣ liệu từ nhiều lĩnh vực, nhiều nguồn khác nhau có liên quan tới đề tài nghiên cứu, ngƣời viết sẽ xử lý, chọn lọc để có những kết luận cần thiết, có đƣợc tầm nhìn khái quát về vấn đề nghiên cứu. - Phương pháp thống kê, phân tích, so sánh tổng hợp: Phƣơng pháp này giúp định hƣớng, thống kê, phân tích để có cách nhìn tƣơng quan, phát hiện ra các yếu tố và sự ảnh hƣởng của yếu tố tới hoạt động du lịch trong đề tài nghiên cứu; việc phân tích, so sánh, tổng hợp các thông tin và số liệu mang lại cho đề tài cơ sở trong việc thực hiện các mục tiêu dự báo, các chƣơng trình phát triển, các định hƣớng, các chiến lƣợc và giải pháp phát triển du lịch trong phạm vi nghiên cứu của đề tài. 3 chƣơng: Chƣơng 1 Tây Nguyên Chƣơng 2 Chƣơng 3.
5 CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ KHÔNG GIAN VĂN HÓA TÂY NGUYÊN 1. G Tây Nguyên Theo địa lý hành chính hiện nay, Tây Nguyên gồm có năm tỉnh, kể từ bắc vào nam, đó là: Kontum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng. Ở Tây Nguyên hiện nay có khoảng trên 20 tộc ngƣời cùng cƣ trú, sinh sống. Nếu không kể mấy tộc ngƣời phía bắc và ngƣời Kinh di cƣ đến thì các tộc ngƣời lâu đời ở đây thuộc về hai nhóm ngôn ngữ chủ yếu là nhóm Môn-Khmer và nhóm Mã Lai đa đảo.
“Văn hóa Tây Nguyên” nhƣ vẫn quen gọi bao gồm văn hóa các tộc ngƣời thuộc 2 nhóm này. Nhƣng thực ra những đặc trƣng của văn hóa Tây Nguyên còn có ở nhiều những tộc ngƣời khác sống trên sƣờn phía Tây của dãy Trƣờng Sơn, suốt một dải từ phía Tây Quảng Bình đến tận Phú Yên. - Tây Nguyên là vùng cao nguyên, phía bắc giáp tỉnh Quảng Nam; phía đông giáp các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận; phía nam giáp các tỉnh Đồng Nai, Bình Phƣớc; phía tây giáp với các tỉnh Attapeu (Lào) và Ratanakiri và Mondulkiri (Campuchia). Trong khi Kon Tum có biên giới phía tây giáp với cả Lào và Campuchia, thì Gia Lai, Đắk Lắk và Đắk Nông chỉ có chung đƣờng biên giới với Campuchia.
Còn Lâm Đồng không có đƣờng biên giới quốc tế. Nếu xét diện tích Tây Nguyên bằng tổng diện tích của 5 tỉnh ở đây, thì vùng Tây Nguyên rộng khoảng 54. Trong tác phẩm Rú Mọi (Les jungles Mois - NXB Tri Thức dịch với tên là Rừng người Thượng), cho đến nay vẫn đƣợc coi là công trình khảo sát cơ bản nhất về Tây Nguyên, tác giả Henri Maitre cho rằng Tây Nguyên không phải là một dãy núi - nhƣ vẫn đƣợc gọi trƣớc nay (Trƣờng Sơn, Chaîne annamitique) - mà là một bình nguyên nằm trên cao. Trong một kỷ địa chất xa xôi trƣớcđó, vùng đất này do chấn động của vỏ trái đất đã đƣợc nâng cao lên đột ngột so với chung quanh, tạo thành một cao nguyên lớn.
[10] 6 Thực chất, Tây Nguyên không phải là một cao nguyên duy nhất mà là một loạt cao nguyên liền kề. Đó là các cao nguyên Kon Tum cao khoảng 500m, cao nguyên Kon Plông, cao nguyên Kon Hà Nừng, Plâyku cao khoảng 800m, cao nguyên M'Drăk cao khoảng 500m, cao nguyên Buôn Ma Thuột cao khoảng 500m, Mơ Nông cao khoảng 800-1000m, cao nguyên Lâm Viên cao khoảng 1500m và cao nguyên Di Linh cao khoảng 900-1000m. Tất cả các cao nguyên này đều đƣợc bao bọc về phía Đông bởi những dãy núi và khối núi cao, chính là dãy Trƣờng Sơn Nam. Về địa hình, Tây Nguyên có hai đặc điểm đáng chú ý: Cao vút ở hai đầu, cực bắc là cụm núi Atouat, với đỉnh Ngok Linh 2598m, cao nhất toàn Tây Nguyên và toàn miền Nam; cực nam là dãy Chƣ Yang Sin, 2402m (là đỉnh cao nguyên Lang Biang).
Giữa hai cụm núi ấy là một bình nguyên mênh mông, bằng phẳng, chỉ có những nếp lƣợn sóng liên tục. Đứng tại thành phố Buôn Ma Thuột nhìn quanh, thấy cụm núi quan trọng nhất của tỉnh Đắk Lắk là núi Đ’leya, cũng xa tƣơng tự nhƣ từ Hà Nội nhìn lên Ba Vì hay Tam Đảo… Đặc điểm địa hình thứ hai rất quan trọng của Tây Nguyên là dốc đứng trên sƣờn phía đông, đổ xuống các tỉnh duyên hải nam Trung Bộ, tạo thành một bức trƣờng thành sừng sững. Chính điều này khiến ngƣời Việt ở các tỉnh ven biển nam Trung Bộ nhìn ngƣợc lên hƣớng tây đã nhầm Tây Nguyên là một dãy núi dài. Từ đồng bằng duyên hải nam Trung Bộ đi lên Tây Nguyên chỉ có một số đƣờng độc đạo, ngày trƣớc là các đƣờng 19 từ Quy Nhơn, qua đèo An Khê và đèo Mang Giang lên Pleiku, rồi có thể đi tiếp qua Stung Treng của Campuchia; đƣờng 26, từ Nha Trang - Ninh Hòa qua đèo Phƣợng Hoàng lên Buôn Ma Thuột; đƣờng 28 từ Phan Rang qua đèo Ngoạn Mục lên Đà Lạt.
Gần đây đã sửa chữa, nâng cấp và mở thêm một số đƣờng khác, nhƣ các đƣờng 14 từ Đà Nẵng và Quảng Nam lên Kontum, đƣờng 24 từ Quảng Ngãi lên Kontum, đƣờng 25 từ Tuy Hòa, Phú Yên lên Pleiku. Đáng chú ý, chẳng hạn nếu theo đƣờng 19 Quy Nhơn - Pleiku thì sau khi lên khỏi đèo An Khê rất cao, ta lại tiếp tục đi bằng chứ không hề xuống dốc, sau đó cách khoảng vài chục km sẽ gặp đèo Mang Giang 7 cũng rất cao và hiểm trở, vƣợt qua rồi lại tiếp tục đi bằng, đến Pleiku, sau đó sẽ xuôi dần thoai thoải về hƣớng tây đến bờ sông Mékông. Tức trong khi sƣờn phía đông dốc đứng, thì sƣờn phía tây của Tây Nguyên khá bằng phẳng, thoai thoải đổ về Mékông. Đặc điểm địa hình này sẽ rất quan trọng trong quan hệ của Tây Nguyên với các “lân bang” trong lịch sử lâu dài: quan hệ về phía tây, với Campuchia và với Lào, thuận tiện hơn là với Champa (và sau đó với Đại Việt) ở phía đông.