Chương I ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG NGHIÊN cứu CỦÃ KHOẤ HỌC HÀNG HÓA 1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN cúu CỦA KHOA HỌC HÀNG HÓA Hàng hóa, là vật thể nhờ những thuộc tính của mình, thỏa mãn được nhu cầu nào đó của con người. Hàng hóa là một phạm trù lịch sử, là sản phẩm lao động 'của xã hội. Để trở thành hàng hóa thì sản phẩm lao động, trước hết thỏa mãn nhu cầu của con người, phải có ích; mặt khác phải nhằm mục đích trao đổi thông qua mua bán trên thị trường.
Khi nào còn tồn tại sản xuất hàng hóa và lưu thông hàng hóa, thì sản phẩm của nền sản xuất xã hội là hàng hóa. Tuy nhiên trên thế giới, hàng hóa phát triển còn tùy thuộc vào đường lối kinh tế của Nhà nước. Trong nền kinh tế thị trường với những đặc trưng của nó vai trò của hàng hóa được đề cao. Trên thị trường với khả năng mua sắm, với điều kiện được lựa chọn, người tiêu dùng nhất định sẽ chọn mua những sản phẩm hợp thị hiếu, có chất lượng.
Từ thực tế đó, 5 trong điều kiện cạnh tranh thường xuyên gay gắt, để đứng vững và phát triển buộc các nhà sản xuất kinh doanh hàng hóa phải hoạch định chiến lược sản phẩm đúng đắn về loại hàng kinh doanh, về số lượng hàng, về cơ cấu mặt hàng và chất lượng sản phẩm. Hàng hóa có hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị. Hai thuộc tính đố do tính hai mặt của lao động kết tinh trong hàng hóa quyết định. Giá trị sử dụng của hàng hóa do lao động cụ thể tạo ra; còn giá trị do lao động trừu tượng tạo ra.
Giá trị sử dụng nói lên tính có ích của vật phẩm hàng hóa, khả năng của hàng hóa thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người hoặc với tư cách là vật phẩm tiêu dùng hoặc với tư cách là tư liệu sản xuâ't. Giá trị sử dụng được quyết định bởi những thuộc tính tự nhiên của vật như tính chất vật lý, hóa học, sinh học, và những thuộc tính do kết quả hoạt dộng hợp lý của con người tạo ra cho nó. Nó do lao động cụ thể tạo ra. Nói đến giá trị sử dụng, tính có ích của hàng hóa là phải gắn với công dụng của vật phẩm hàng hóa.
Công dụng của một vật làm cho vật ấy có giá trị sử dụng. Giá trị sử dụng chỉ được thế hiện qua sử dụng hay tiêu dùng, chỉ có trong tiêu dùng sản phẩm mới thực sự trở thành sản phẩm. Ví dụ, một cái áo chỉ trở thành cái áo thực sự khi có người mặc nó; một ngôi nhà không có người ở thực sự chưa phải là ngôi nhà. Cùng với sự tiến hóa của lịch sử loài người, sự phát triển của sản xuất xã hội, và những tiến bộ của khoa học công nghệ, con người tạo ra sản phẩm càng nhiều thuộc tính mới, đặc trưng mới và do đó làm tăng tính đa dạng của giá trị sử dụng.
Đặc điểm giá trị sử dụng của hàng hóa là nỏ phải 6 thỏa mãn nhu cầu của người mua, thỏa mãn nhu cầu xã hội, nó phải thể hiện với tư cách là giá trị sử dụng xã hội. Một sản phẩm hàng hóa để thỏa mãn nhu cầu nào đó chỉ có thể chứng minh qua trao đổi. Vật phẩm không được mua trong quá trình trao đổi sẽ mất đi giá trị sử dụng của mình. Khác với trường hợp sản phẩm được làm ra không nhằn mục đích trao đổi mà chỉ phục vụ nhu cầu cá nhân người làm ra nó, thì giá trị sử dụng đó là giá trị sử dụng cá biệt, và đương nhiên sản phẩm đó chưa phải là hàng hóa.
Ví dụ: tự sản xuất đồ gỗ dể dùng, tự sản xuât sản phẩm ăn uổng đê’ phục vụ cá nhân gia đình. Giá trị sử dụng và giá trị của hàng hóa có môi quan hệ gắn bó hữu cơ. Trong điều kiện sản xuất hàng hóa, giá trị sử dụng là vật mang giá trị trao đổi mà ẩn sau là giá trị. Giá trị - lao động xã hội đã vật hóa trong hàng hóa.
Mọi sản phẩm do con người sản xuât ra đều chứa đựng lao động, nhưng chỉ trong những điều kiện lịch sử nhất định lao dộng dó mới mang hình thức xã hội của giá trị. Muôn thế điều cần thiết là lao động phải tạo ra những vật thỏa mãn được nhu cầu của con người nhưng không phải là nhu cầu của người sản xuât, mà là nhu cầu của những người tiêu dùng - những vật đó đến với họ thông qua trao đổi. Trong quá trình trao đổi, người mua và người bán chuyển giao cho nhau những hàng hóa của mình, họ so sánh với nhau như là những vật ngang giá, họ không chú ý đến thuộc tính có ích của những vật đem trao đổi, mà quan tâm tới cái chung nhất đó là thuộc tính xã hội của hàng hóa - là lao động kết tinh trong hàng hóa. Việc bỏ qua những 7 thuộc tính có ích của hàng hóa nghĩa là không xét đến những đặc điểm nghề nghiệp của lao dộng xã hội, mà qui những loại lao động cụ thể khác nhau thành lao động trừu tượng.
Lao động trừu tượng tiêu hao trong quá trình sản xuât, ở đó nó thể hiện với tư cách là lao dộng xã hội được che giấu thông qua giá trị hàng hóa. Như vậy, một mặt, giá trị biểu hiện hao phí lao động sản xuất theo ý nghĩa sinh lý (tiêu hao sức não, bắp thịt, thần kinh v.); mặt khác biểu hiện môi quan hệ giữa những người sản xuất hàng hóa, mối quan hệ này ẩn dằng sau môi quan hệ giữa các vật thể mà họ đem trao đổi. Lượng giá trị của hàng hóa được quyết dịnh bởi số lượng lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra nó và được đo bằng thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hóa trong những điều kiện sản xuất xã hội, với trình độ khéo léo và cường dộ trung bình. Thời gian lao dộng xã hội cần thiết kết.
tinh trong hàng hộa không biểu hiện bằng số giờ hay phút tương ứng, mà chỉ thể hiện một cách gián tiếp thông qua một hàng hóa khác. Tỷ lệ trao đổi chứng minh rằng cả hai vế đều là những giá trị có đại lứợng bằng nhau và chứa dựng thời gian lao động giống nhau. Lượng giá trị thay đổi tỷ lệ nghịch với năng suất lao động. Năng suất lao động không ngừng tăng lên sẽ làm cho lượng giá trị giảm xuống một cách tương ứng.
Đó chính là bài toán mà mọi doanh nghiệp cần xử lý để đảm bảo hiệu quả sản xuất kinh doanh, vì người tiêu dùng không chấp nhận giá trị sử dụng với bất kỳ giá nào. Nghiên cứu giá trị sử dụng của hàng hóa như nó vốh có, và nghiên cứu các thuộc tính của vật là đốì tượng của nhiều môn khoa học ứng dụng. Do giá trị sử dụng và giá trị là hai thuộc tính của hàng hóa có 8 quan hệ gắn bó hữu cơ không thể tách rời, bởi vậy khi .nghiên cứu giá trị sử dụng của hàng hóa không thể chỉ dừng lại ở nghiên cứu các thuộc tính tự nhiên của vật mà phải nghiên cứu các thuộc tính kinh tế - xã hội, nhất là trong điều kiện của nền kinh tế thị trường. Đó cũng chính là sự khác biệt cơ bản giữa bộ môn khoa học thương phẩm truyền thống với bộ môn khoa học hàng hóa hiện đại này.
NỘI DUNG NGHIÊN cứu CỦA KHOA HỌC HÀNG HÓA Khoa học hàng hóa là bộ môn khoa học nghiên cứu giá trị sử dụng và mối quan hệ giữa giá trị sử dụng và giá trị của hàng hóa. Xuất phát từ đối tượng nghiên cứu, khoa học hàng hóa đi sâu nghiên cứu những nội dung sau: - Nghiên cứu xác lập những yêu cầu đốì với hàng hóa, danh mục các tính chất sử dụng của hàng hóa, xác định các chỉ tiêu chất lượng, định lượng các đặc trưng tính chất của hàng hóa. Cơ sở của vấn đề là giá trị sử dụng hay tính có ích của hàng hóa được quyết định bởi tổng hợp những đặc trưng tính chất cấu thành nên giá trị sử dụng hàng hóa. Xuất phát từ nhu cầu cụ thể và các điều kiện khai thác sử dụng hàng hóa, mỗi hàng hóa phải đáp ứng những yêu cầu tiêu dùng xác định.
Các yêu cầu đó phải thỏa mãn tối đa các tính chất sử dụng, cũng như nhu cầu hàng hóa phải đáp ứng. - Nghiên cứu chất lượng hàng hóa là nội dung cơ bản và nhiệm vụ quan trọng nhất của khoa học hàng hóa. 9 Hàng hóa cùng công dụng đều cố giá trị sử dụng nhưng cố thể thỏa mãn nhu cầu ở những mức độ khác nhau được biểu hiện sinh động qua thực tiễn mua bán trên thị trường và tiêu dùng, nghĩa là chúng có chất lượng khác nhau. Từ đó cho thấy giá trị sử dụng mới định tính tính có ích của hàng hóa, còn chất lượng dịnh lượng tính có ích đó, dồng thời phản ánh mức độ biểu hiện của giá trị sử dụng và là thước đo của giá trị sử dụng.
Mặc dù có những điểm chung, khái niệm giá trị sử dụng và khái niệm chất lượng có sự khác biệt nhất định. Khái niệm giá trị sử dụng rộng hơn khái niệm chất lượng. Theo quan điểm giá trị sử dụng có thể đo lường những sản phẩm đồng dạng, chẳng hạn tính toán các loại nhiên liệu khác nhau theo đơn vị qui ước về nhiệt trị của chúng. Theo quan điểm chất lượng chỉ có thể so sánh, đánh giá những dạng sản phẩm tương tự, chẳng hạn của các loại xăng hay của than đá chứ không phải của nhiên liệu nói chứtig.
Giá trị sử dụng cũng như chất lượng là tổng hợp các đặc trưng tính chất, nhưng tổng hợp' tính chất của giá trị sử dụng rộng hơn tểng hợp tính chất cấu thành chất lượng. Ví dụ các đặc trưng kích thước của quần áo, tủ lạnh là tính chất sử dụng quan trọng, nhưng khi đánh giá chất lượng sản phẩm chúng không được tính đến. Điểm chung nhất giữa giá trị sử dụng và chất lượng là chúng đều do kết quả của lao động tạo ra và được thể hiện trong quá trình tiêu dùng sản phẩm hàng hóa. Nghiên cứu chất lượng hàng hóa bao gồm những nội dung liên quan đến việc nhận biết chát lượng thông qua kiểm tra, đo lường, so sánh, đánh giá chát lượng, những nội dung liên quan đến những biến dổi hàng hóa trong quá trình vận động và những biện pháp 10 tương ứng nhằm ngăn ngừa, hạn chế những biến dổi bất lợi.
- Nghiên cứu những vấn đề quan, hệ dến mặt số lượng của hàng hóa cũng là nhiệm vụ quan trọng của khtoa học hàng hóa.