CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan về loài Camellia sp.1 Phân loại khoa học của loài Camellia sp. Loài Camellia sp. có tên thường gọi là trà hoa trắng, đây là một loài trà mới được tìm thấy tại Vườn quốc gia Bù Gia Mập và hiện nay tên khoa học của loài chưa được thống nhất, bên cạnh đó cũng chưa có nghiên cứu liên quan đến loài thực vật này. Khi gặp một loài mới, người ta thường viết tắt tên loài bằng chữ viết tắt sp.
Nếu có nhiều loài thuộc về cùng một chi nhưng không chỉ rõ loài nào, người ta có thể viết tắt thành spp., có nghĩa species plurima (nhiều loài), hoặc sp. 1 Cây trà hoa trắng Camellia sp. – Vườn quốc gia Bù Gia Mập Loài Camellia sp. có phân loại khoa học như sau: Giới: Plantae (Thực vật) Ngành: Magnoliophyta (Ngọc lan) Lớp: Magnoliopsida (Ngọc lan) Bộ: Theales (Trà) Họ: Theaceae (Trà) Chi: Camellia L.
(Trà) Loài: Camellia sp. (Trà hoa trắng) 1 Hiện nay, chưa có nghiên cứu về loài Camellia sp. nên chưa có thông tin chính xác về cây trà hoa trắng này cũng như về các nhóm chất có trong cây trà. Tuy nhiên, qua các đặc điểm chung về các loài thuộc chi Camellia L.
có thể dự đoán được một số thành phần quan trọng có thể có như polyphenol, flavonoid, tanin, saponin,… 1.2 Mô tả thực vật của chi Camellia L., một chi gồm cây bụi và cây gỗ, là chi lớn nhất và có giá trị về mặt kinh tế, xã hội và sinh thái trong họ Theaceae [1]. thuộc nhóm cây bụi hoặc cây nhỏ, thường xanh, cành nhẵn hoặc có lông. Lá thường có cuống; đơn mọc cách, kích thước lá thay đổi, có thể dài từ vài cm đến 45 cm; chất lá chủ yếu là dạng da, có độ dày mỏng khác nhau; chóp lá nhọn, có đầu nhọn hoặc kéo dài thành đuôi; gốc lá hình nêm hẹp, nêm rộng, tròn hay hình tim; mép lá có răng cưa nhọn hoặc tù [2]. 2 Hình dạng chóp lá A: Chóp lá nhọn; B: Chóp lá có mũi nhọn; C: Chóp lá có đuôi A B C Hình 1.
3 Hình dạng gốc lá A: Gốc lá hình nêm; B: Gốc lá tròn; C: Gốc lá hình tim có tai Hoa đều, lưỡng tính, kích thước lớn hoặc nhỏ, mọc đơn hoặc mọc tập trung 2-5 hoa ở nách lá hay đỉnh cành. Hoa có màu đỏ, trắng hoặc vàng; cuống hoa ngắn hoặc gần như không. Lá bắc từ 2-10 lá, mọc xoắn trên cuống hoa, lá đài có từ 1-5 phiến, cả lá bắc và lá đài có thể tồn tại hoặc rụng sớm. Cánh hoa từ 4-19 cánh, hợp một phần ở gốc cùng 2 với vòng nhị ngoài; nhị nhiều, những nhị ngoài thường dính nhau thành hình cái chén hay ống ở phía gốc, vòng nhị phía trong rời nhau, chỉ nhị dài.
Bầu trên, có 1-5 ô, vòi nhụy 1-5 vòi dạng sợi rời hoặc dính nhau tùy theo mức độ; bàu và vòi nhụy nhẵn hoặc phủ lông mịn [2]. Quả nang hình cầu, hình cầu dẹt hay hình trứng, khi khô, chẻ ô từ trên xuống thành 3-5 mảnh; có thể có hoặc không có trụ quả. Hạt thường có từ 1 đến nhiều hạt trong mỗi ô, có dạng hình cầu, nửa cầu hay hình nêm; vỏ hạt màu nâu, nâu hạt giẻ nhạt hoặc nâu hồng; hạt nhẵn hoặc phủ lông [2]. 4 Quả hình cầu A: C.
hakodae có hình cầu dẹt; B: C. petelotii khi mở để lộ trụ quả; C: C. 5 Hình dạng hạt A: Hình cầu; B: Hình bán nguyệt; C: Hình nêm 1.3 Phân bố sinh thái của chi Camellia L. Chi Camellia có khoảng 280 loài [2], có nguồn gốc từ Đông Á và được tìm thấy chủ yếu ở khu vực Đông Á và Đông Nam Á [3, 4].
Ngoài ra, chi Camellia còn có nguồn gốc từ ở vùng phía Nam và Tây Nam Trung Quốc [5]. Ở Việt Nam, chi Camellia có 58 loài được ghi nhận [2], trong đó có gần 40 loài trà hoa vàng và được phân bố trong các khu rừng lá rộng thường xanh tự nhiên [6]. 1 Một số loài trà thuộc chi trà Camellia ở Việt Nam STT Tên khoa học Phân bố TLTK 1 C.) Cohen Stuart VQG Tam Đảo, Vĩnh Phúc [2] 2 C. bugiamapensis Orel, Curry, Luu & 3 VQG Bù Gia Mập, Bình Phước [7] Q.D VQG Tam Đảo, Vĩnh Phúc; Ấn 4 C.
caudate Wallich Độ, Myanmar; Bhutan; Trung [2] Quốc 5 C. capitata Orel VQG Cát Tiên, Lâm Đồng [8] 6 C. cattienensis Orel VQG Cát Tiên, Lâm Đồng 7 C. crassiphylla Ninh & Hakoda Tam Đảo, Vĩnh Phúc [2] 8 C.
cucphuongensis Ninh & Rosmann VQG Cúc Phương, Ninh Bình [9] Quảng Ninh; Quế Phong, Nghệ An; Tam Đảo, Vĩnh Phúc; Ninh 9 C. chrysantha (Hu) Tuyama Bình; Đà Lạt; Tuyên Quang; Ba [2] Vì, Hà Nội; Vĩnh Cửu, Đồng Nai.Luong, Ninh & Hakoda Đà Lạt, Lâm Đồng [10] 11 C. dilinhensis Tran & Luong Di Linh, Lâm Đồng [7] Hồi Xuân, Thanh Hóa; Nghệ An; Quảng Trị; Lâm Đồng; Tây 12 C. dormoyana (Pierre) Sealy [7] Ninh; Biên Hòa, Đồng Nai, Phú Quốc, Kiên Giang.
dongnaiensis Orel Đồng Nai [7] Sơn Động, Bắc Giang; Ba Chẽ, 14 C.ex Sealy [7] Quảng Ninh; Lạng Sơn VQG Cúc Phương, Ninh Bình; 15 C. flava (Pitard) Sealy [7] Hòa Bình; Nghệ An Diên Khánh, Khánh Hòa; Vĩnh 16 C.Chev) Sealy [7] Phúc 17 C.) Cohen Stuar VQG Tam Đảo, Vĩnh Phúc; Yên [2] Tử, Quảng Ninh; Ba Vì, Hà 4 Tây; Quảng Trị, Đà Nẵng; Bình Định; Kon Tum; Gia Lai; Lâm Đồng; Trung Quốc; Lào 18 C.Chev) Sealy Tam Đảo, Vĩnh Phúc [2] 19 C.T Tam Đảo, Vĩnh Phúc [2] 20 C.Sealy Hàm Yên, Tuyên Quang [7] C. hatinhensis Luong, Tran &L. 21 Vũ Quang, Hà Tĩnh [11] Nguyen 22 C.
Ninh Tam Đảo, Vĩnh Phúc [2] C.Nguyen, 23 Lạng Sơn [12] Luu 24 C. oconoriana Orel, Curry & Luu Lâm Đồng [46] Thái Nguyên; Phú Thọ; Lâm 25 C.4 Thành phần hóa học của chi Camellia L. Hiện nay, đã có nhiều nghiên cứu về thành phần hóa học của các loài trà thường gặp thuộc chi Camellia đã được công bố, đặc biệt là trà xanh và trà hoa vàng. Lá trà của các loài thuộc chi Camellia chứa hơn 700 hợp chất hóa học có lợi cho sức khỏe con người [13, 14], bao gồm nhóm chất đường, tinh dầu, sắc tố, acid hữu cơ, chất vô cơ, vitamin, glycozid, tanin, chất nhựa, pectin, alkaloid, protein và acid amin, enzym, flavonoid, polyphenol [15] Nhóm polyphenol Thành phần hóa học của chi Camellia rất đa dạng, các alkaloid purin và polyphenol là các hợp chất có hoạt tính sinh học chính trong tất cả các loài Camellia và nhận được sự quan tâm nghiên cứu nhiều nhất [16].
Các alkaloid purin chính trong trà gồm caffein, theobromin, theophylin và theacrin, các hợp chất polyphenol là gallic acid và các loại catechin như catechin, epicatechin,… Bên cạnh đó, các flavonol cũng được tìm thấy như kaempferol, quercetin, myricitin và các glycosid của chúng như kaempferol-3-glucosid, quercetin-3-hamnoglucosid, myricitin-3-glucosid, trong đó flavonol glycosid chiếm 2 đến 3% cao trích của trà [17-20]. 5 Nhóm saponin Saponin được cho là thành phần chính của nhiều loại thuốc từ thực vật và thuốc dân gian, được coi là nguyên nhân tạo ra nhiều đặc tính dược lý của cây thuốc. Cho đến nay, chỉ có saponin triterpenoid pentacyclic được báo cáo phát hiện từ chi Camellia, và hầu hết chúng là các saponin triterpenoid loại oleanane. Các nghiên cứu đã phân lập được 188 hợp chất saponin từ rễ, thân, lá, hoa và hạt của các loài thuộc chi Camellia, trong đó có 87 saponin từ C.
oleifera và 7 từ C. Nhóm vitamin và acid amin Các loài thuộc chi Camellia L. chứa nhiều vitamin, đặc biệt là vitamin C, có tác dụng giải nhiệt và kháng oxy hóa, ngoài ra, theanin là acid amine chính và đặc trưng trong trà. Theo nghiên cứu của Jia-Ni Lin và cộng sự đã tìm ra các acid amine như GABA theanin, Arg, Glu, Tyr, Trp, Thr,… trong 6 loài trà hoa vàng [22].
Thành phần hóa học của một số loài thuộc chi Camellia L. được trình bày ở bảng 1. 2 Thành phần hóa học của một số loài thuộc chi Camellia L. Bộ STT Nhóm chức Loài Hợp chất TLTK phận catechin; epicatechin; kaempferol; isovitexin; vitexin; Lá [23] quercetin-7-O-β-D- glucopyranoside C.
chrysantha quercetin-3'-O-β- D- glucopyranoside; quercetin-3-O- Hoa [24] 1 Polyphenol β-D-glucopyranoside; quercetin- 3-O- rutinose catechin, catechin-4-α,8- catechin; quercetin; C.niprisssima Hoa isoquercetin; kaempferol, [25] kaempferol-3-O-β-D- glucopyranosyl; kaempferol-3- O-β-D-rutinoside; kaempferol-3- 6 O-[α-L-rhamnopyranosyl- (13)-2,4-di-O-acetyl-α-L- rhamnopyranosyl-(16)]-β-D- glucopyranoside; kaempferol-3- O- [4-O-acetyl-α-L- rhamnopyranosyl-(1 3)-2,4-di- O-acetyl-α-L-rhamnopyranosyl- (1 6)]-β-D-glucopyranoside; kaempferol-3-O-[2,3,4-tri-O- acetyl-α-L-rhamnopyranosyl- (1 3)-4-O-acetyl-α-L- rhamnopyranosyl-(1 6)]-β-D- glucopyranoside; kaempferol-3- O-[2,3,4-tri-O-acetyl-α-L- rhamnopyranosyl-(13)-2,4-di- O-acetyl-α-L-rhamnopyranosyl- (1 6)]-β-D-glucopyranosid; multiflorin C aromadendrin; catechin, phlorizin 4'-O-β-D- glucopyranoside; kaempferol-3- Lá [26] O-[2-O-(trans-p-coumaroyl)-3- O-α-D-glucopyranosyl]-α-D- glucopyranoside C. kaempferol; methyl gallate; Lá [27] cucphuongensis gallic acid; astragalin; vanillin quercetin; kaempferol; naringenin; taxifolin; epigallocatechin; epicatechin; epigallocatechin gallate; quercetin-7-O-β-D- C.hakodae Hoa [28] glucopyranoside; quercetin-3-O- β-D-glucopyranoside; sexangularetin-3-O-(2″-O-(E)-p- coumaroyl-β-D- glucopyranoside) α-apinasteryl-β-D- 2 Saponin C. nitidissima Lá glucopyranosid; atigmasta-7,22- [26] diene-3-O-[α-L- arabinopyranosyl-(1→2)]-β-D- 7 galactopyranosid; kaempferol-3- O-[2-O-(trans-p-coumaroyl)-3- O-α-D-glucopyranosyl]-α-D- glucopyranosid; aromadendrin; catechin; phlorizin 4′-O-β-D- glucopyranosid; (3R,6R,7E)-3- hydroxy-4,7-megastigmadien-9- one; codecanoic acid; 3β- acetoxy-20-lupanol; 3β,6α,13β- trihydroxyolean-7-one C.bugiamapensis Lá camellioside I, camellioside J [29] camellistigoside A, 3 Monoterpene C.bugiamapensis Lá camellistigoside B, Icariside B1, [29] (6S, 9R)-roseoside 3β-acetoxy-20-lupanol; A1- Lá barrigenol-22a-angelate; 3β, 6α, [30] 13β-trihydroxyolean-7-one C.niprisssima lupeol; oleanolic acid; β- Hoa [31] sitosterol Triterpenoid, 4 Phytosterol β-sitosterol, α-spinasterol, C.euphlebia Lá Oleanolic acid, β-amyrin; [32] olibanumol L; α-amyrin spinasterol; stigmasterol; C.dalatensis Lá [33] oleanolic acid 1.5 Tác dụng sinh học của các loài thuộc chi trà Camellia Các loài thuộc chi trà Camellia có nhiều thành phần hóa học với hoạt tính sinh học cao, vì thế một số tác dụng sinh học đã được nghiên cứu như kháng viêm, ức chế tế bào ung thư, kháng oxy hóa, loại bỏ gốc tự do, hạ đường huyết, ức chế tổng hợp acid béo, kích thích khẩu vị,… được trình bày ở bảng 1. 3 Hoạt tính sinh học của một số loài trà thuộc chi Camellia STT Tác dụng Loài Bộ phận TLTK 1 Kháng viêm C.
chrysantha Lá, hoa [28] Ức chế tế bào ung thư 2 C. euphlebia, Kháng oxy hóa, loại bỏ 3 C. tunghinensis, Lá, hoa [20, 22] gốc tự do C. chrysantha 4 Hạ đường huyết C.
murauchii, Ức chế tổng hợp acid C. microcarpa 6 Kích thích khẩu vị C. chrysantha Lá, hoa [28] Điều hòa và hạ lipid C. nitidissima Ngoài ra, các thành phần flavonoid và polysaccharid là những hoạt chất mang nhiều tác dụng sinh học quan trọng, điển hình là quercetin và vitexin.
Quercetin là một flavonoid có tính oxy hóa mạnh, có nhiều trong thực vật với các tác dụng sinh học quan trọng như tác dụng chống viêm, phòng ngừa các bệnh tim mạch, hỗ trợ điều trị các triệu chứng rối loạn thần kinh như Alzheimer’s hay Parkinson, kháng ung thư, viêm loét dạ dày, tá tràng, kháng khuẩn, kháng nấm, điều trị dị ứng và cảm sốt [36]. Vitexin cũng là một flavonoid quan trọng, vitexin (apigenin-8-C-glucosid) có tác dụng chống viêm, chống tăng nhãn áp, và bảo vệ thần kinh [37]. 9 Catechin là tên gọi chung của các hợp chất polyphenol được chiết xuất từ lá trà xanh, có khả năng làm giảm các gốc tự do và được dùng như một tác chất kháng oxy hóa có nguồn gốc tự nhiên, thay thế các chất kháng oxi hóa tổng hợp dễ gây tác dụng phụ có hại.