CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Về thực vật 1. Phân loại khoa học Chi Camellia L. thuộc họ chè (Theaceae), trên thế giới có khoảng gần 500 loài thuộc 18 chi khác nhau, trong đó chi trà Camellia L.
Ở Việt Nam, trà Camellia L. trồng và mọc hoang ngoài tự nhiên trải dài từ Bắc vào Nam với khoảng 77 loài được ghi nhận, trong đó có khoảng 40 loài có hoa màu vàng, tập trung ở khu vực phía Bắc (Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh,…) và phía Nam ở một số tỉnh như Lâm Đồng, Đồng Nai,… VQG Bù Gia Mập với địa thế là địa hình khu vực đại diện duy nhất cho vùng khí hậu chuyển tiếp từ cao nguyên xuống Đông Nam bộ mà không nơi nào có được, vì thế hệ thực vật nói chung và chi Camellia L. nói riêng ở đây cũng có nhiều loài rất đặc thù, giá trị khoa học riêng biệt, mang tính bảo tồn và kinh tế cao. Trà hoa vàng Bù Gia Mập có tên khoa học là Camellia bugiamapensis Orel & Luu sp., đây là loài thuộc chi Camellia L., loài trà hoa vàng đặc hữu của Vườn quốc gia Bù Gia Mập, được công bố vào năm 2014.
Theo công bố của các nhà khoa học trong Sách đỏ thế giới (IUCN Red List, 2018), đây là loài chỉ ghi nhận duy nhất ở một phạm vi nhỏ hẹp (1km2) tại Vườn quốc gia Bù Gia Mập, nằm trong khu vực biên giới Việt Nam – Campuchia. Số lượng cây trưởng thành vô cùng ít (ước lượng khoảng từ 49-70 cây) và được xếp bảo tồn vào bậc CR (cực kỳ nguy cấp), vậy nên, ta đưa ra những giải pháp để nhân giống và bảo tồn loài cây này. Đặc biệt, loài C.bugiamapensis ngoài giá trị bảo tồn nguồn gen, các nhà khoa học còn đánh giá là loài có giá trị dược liệu tương tự loài trà hoa vàng C.chrysantha đã được công nhận trên toàn thế giới [54].1 Cây trà hoa vàng C.bugiamapensis ở VQG Bù Gia Mập Vị trí của loài C.bugiamapensis trong hệ thống phân loại thực vật của Takhtajan (2009) [51] theo bảng 1.1: Phân loại khoa học của loài C.bugiamapensis Hệ thống phân loại (Taxonomy) Giới Plantae Họ Theaceae Ngành Tracheophyta Chi Camellia Lớp Magnoliopsida Loài Camellia bugiamapensis Bộ Theales Tên khoa học Camellia bugiamapensis Orel & Luu sp. Tên Tiếng Việt Trà hoa vàng Bù Gia Mập 1.
Mô tả thực vật Loài C.bugiamapensis là dạng cây bụi gỗ nhỏ lâu năm, phân cành thưa thớt, cao đến 7m, đường kính gốc thân cây to đến 20cm. Chồi non nhẵn, có màu xanh nhạt, sau đó chuyển dần từ xám qua màu nâu, nhẵn. Cành trưởng thành đồng màu. Cuống lá cong hình lưỡi liềm, ngắn và dày, mép có màu xanh nhạt, gần giữa có màu xanh, ở những lá già hơn thì có màu nâu, thỉnh thoảng có thể bần, như một rãnh dài chạy dọc theo trục bên.
Lá non đang phát triển màu xanh nhạt, rất dễ nhận thấy, dường như trơn nhẵn, dạng elip đến ovan và mép lá 2 có răng cưa không đều. Lá trưởng thành hình elip đến ovan, và elip rộng, kích thước từ ( 18 ÷ 29,5) x (12 ÷ 15) cm, mép lá có răng cưa bất thường không đều. Về hoa mang tính đặc trưng riêng của loài này, hoa dường như hình thuôn, mọc ở tận cùng, đơn độc, thỉnh thoảng mọc theo chùm với 3-5 bông nụ. Hoa chín hoặc già cỗi sắp tàn có sự tương phản mạnh mẽ của cách hoa bị bẻ gập ra bên ngoài để lộ phần nhị đực.
Nụ hoa không nhiều lắm, hình cầu không đồng đều, màu vàng tối với những vẩy nổi. Hoa có kích thước 4 x 2 cm, khi chín nhìn toàn bộ hoa như một cái đấu màu vàng rất đẹp. Nhị đực nhiều màu vàng sáng từ 50 – 100 cái. Quả chín hình cầu không đều nhau.
Mùa ra hoa từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau.2 Đặc điểm thực vật của loài C. Lá nhìn mặt trên; B, C. chóp lá và cuống lá nhìn mặt dưới; D, I. một phần cánh hoa và bộ nhị; H.
Phân bố thực vật của loài C.bugiamapensis tại VQG Bù Gia Mập C.bugiamapensis được phân bố trong khoảng không đến 1 km2 tại vị trí rất đặc trưng cách đường biên giới Việt Nam - Campuchia khoảng 1 km, trong phạm vi của vườn quốc gia Bù Gia Mập tỉnh Bình Phước[55]. Loài này được tìm thấy trong khu rừng nhiệt đới đất thấp bị xáo trộn gần nguồn nước. Loài mới này ưa sống trong rừng kín mưa ẩm nhiệt đới, đất thấp liền kề hệ thống sông suối. Hiện nay, số cá thể trưởng thành của loài này ước chỉ còn khoảng 50 cá thể và hoàn toàn cần thiết để xem xét và đưa loài này vào danh sách những loài đang bị đe dọa tuyệt chủng mức độ CR của IUCN, 2011 tiêu chuẩn D, (Critically Endangered).
Tuy nhiên khu vực này đang nằm trong phạm vi vùng lõi của VQG Bù Gia Mập, được bảo vệ nghiêm ngặt. Cho nên có thể đưa loài này vào mức độ bị đe dọa cần thiết bảo tồn tiêu chuẩn là EN / IUCN, 2011 (Endangered) [54]. Thành phần hoạt chất của một số loài thuộc chi Camellia L. Trên thế giới đã có những nghiên cứu khá đầy đủ về thành phần hóa học của các loài thuộc chi Camellia L., bao gồm các nhóm hợp chất: polyphenol, flavonoid, tannin, saponin, đường khử tự do, acid amine, sterol, acid hữu cơ, tinh dầu và các nguyên tố vi lượng các nguyên tố như selenium (Se), germannium (Ge), kalium (K), kẽm (Zn), molypden (Mo), vanadium (V), manganat (Mn) và các vitamin B1, B2, C… [54].
Hiện nay, chưa có nghiên cứu chuyên sâu về loài C.bugiamapensis nên chưa có thông tin chính xác về thành phần hóa học cũng như các hoạt tính sinh học. Tuy nhiên dựa trên cơ sở loài này thuộc chi Camellia L., nên có thể dự đoán chứa các chất đánh dấu (marker) của chi Camellia L. Các nhà khoa học đã đưa ra các đánh giá là loài có giá trị dược liệu tương tự loài C.chrysantha đã được công bố trên thế giới nên loài cây này sẽ chứa các nhóm chất (polyphenol, flavonoid, tannin, saponin,…) như loài C.chrysantha đã được nghiên cứu trước đó [53]. Nhóm polyphenol Nhóm polyphenol được xem là nhóm chất quan trọng nhất, đặc trưng của loài trà hoa vàng do những tác dụng sinh học nổi bật mà chúng mang lại.
Đặc điểm chung của các polyphenol 4 là trong phân tử có vòng thơm mang một hay nhiều nhóm hydroxyl (OH) gắn trực tiếp vào vòng benzene. Tùy vào số lượng và vị trí tương hỗ của các nhóm mà tính chất lý học và hóa học thay đổi. Thành phần polyphenol của Trà hoa vàng rất đa dạng, chủ yếu thuộc nhóm flavonoid và tannin. Các flavonol như quercetin, kaempferol, myricitin, luteonin và các glycosid của chúng như myricetin-3-glucoside, kaempferol-3-glucoside, quercetin-3- hamnoglucoside,…được tìm thấy, trong đó flavonol glycosid chiếm 2 đến 3% cao trích của trà hoa vàng [6], [63], [61].
Cấu trúc của các hợp chất này được trình bày dưới đây: Bảng 1.2 Các hợp chất polyphenol, flavonoid được phân lập từ các bộ phận của một số loài cây trà hoa vàng thuộc chi Camellia L. Loài Bộ phận Hợp chất TLTK Catechin (1), epicatechin (2), kaempferol (J. Wei et al.chrysantha Lá (3), isovitexin (4), vitexin (5), và 2015) [64] quercetin-7-O-β-D-glucopyranoside (6) Quercetin-3'-O-β- D-glucopyranoside (Nguyen et al.chrysantha Hoa (7), quercetin-3-O-β-D-glucopyranoside 2018) [60] (8), và quercetin-3-O- rutinose (9) Quercetin 7-O-(6"-O-E-caffeoyl)-β-D- glucopyranoside (10), quercetin (11), (Peng, Yu, et al.niprisssima Hoa quercetin 7- O-β-D-glucopyranoside, và 2012) [38] quercetin 3-O-β-D-glucopyranoside Catechin, gallic acid (12), ellagic acid (Yang et al.niprisssima Hoa (13), quercetin, kaempferol, và 2018) [69] chlorogenic acid (14) Catechin, catechin-4-α,8-catechin (15), quercetin, isoquercetin, kaempferol, (Yang et al.niprisssima Hoa kaempferol-3-O-β-D-glucopyranosyl 2018) [68] (16), kaempferol-3-O-β-D-rutinoside (17), kaempferol-3-O-[α-L- 5 rhamnopyranosyl-(1→3)-2,4-di-O-acetyl- α-L-rhamnopyranosyl-(1→6)]-β-D- glucopyranoside (18), kaempferol-3-O- [4- O-acetyl-α-L-rhamnopyranosyl-(1→ 3)- 2,4-di-O-acetyl-α-L-rhamnopyranosyl- (1→ 6)]- β-D-glucopyranoside (19), kaempferol-3-O-[2,3,4-tri-O-acetyl-α-L- rhamnopyranosyl- (1→ 3)-4-O-acetyl-α- L-rhamnopyranosyl-(1→ 6)]-β-D- glucopyranoside (20), kaempferol-3-O- [2,3,4-tri-O-acetyl-α-L-rhamnopyranosyl- (1→3)-2,4-di-O-acetyl-α-L- rhamnopyranosyl -(1→ 6)]-β-D- glucopyranosid (21), và multiflorin C (22) Aromadendrin (24), catechin, phlorizin 4'-O-β-D-glucopyranoside (25) và (Hou et al.niprisssima Lá coumaroyl)-3-O-α-D-glucopyranosyl] - (Qi et al. lập và xác định (Cheng, Hou et acid gallic, catechin, acid salicylic và al.niprisssima Lá okicamelliaside (27) Quercetin, kaempferol, naringenin (28), taxifolin (29), epigallocatechin (30), (-) (Nguyen, Tran, epicatechin, epigallocatechin gallate Pham et al.hakodae Hoa [58] (31), quercetin 7-O-β-D- glucopyranoside, quercetin 3-O-β-D- glucopyranoside và sexangularetin 3-O- 6 (2 ″ -O- (E) -p-coumaroyl-β- D- glucopyranoside) (32) (Trần, 2019; Kaempferol, methyl gallate (33), acid C.cucphuongensis Lá Phạm et al., 2019) gallic, astragalin, và vanillin (34) [57], [40] (1) (2) (3) (4) (5) (6) (7) 7 (8) (9) (10) (11) (12) (13) (14) (15) (16) 8 (17) (18) (19) (20) (21) (22) 9 (24) (25) (23) (26) (27) 10 (28) (29) (30) (31) (32) (33) (34) Hình 1.3 Cấu trúc của các hợp chất polyphenol được phân lập từ chi Camellia L.
Nhóm triterpenoid và phytosterol (35) (36) (37) 11 (38) (39) (42) (43) (44) (40) (41) (45) Hình 1.4 Cấu trúc của các hợp chất triterpenoid and phytosterols được phân lập từ chi Camellia L.niprisssima, một số hợp chất triterpene đã được phân lập được và xác định là 3β-acetoxy-20-lupanol (35), A1-barrigenol-22a-angelate (36), và 3β, 6α, 13β- trihydroxyolean-7-one (37) (Hou và cộng sự, 2018; Qi và cộng sự, 2016). Trong hoa của C. 12 β-sitosterol (40), α-spinasterol (41), acid oleanolic, β-amyrin (42), và olibanumol L (43) được phân lập từ C.euphlebia ở Quảng Tây, Trung Quốc (Ya, 2013) [66]. Ngoài ra, β- amyrin và α-amyrin (44) được xác định là thành phần chính trong lá Camellia euphlebia bằng phương pháp GC-MS (L.
Peng và cộng sự, 2012). Từ chiết xuất ethanol của lá C.dalatensis, một loài hoa trà vàng đặc hữu của tỉnh Lâm Đồng, Nguyen et al. Nhóm monoterpene (46) (47) (48) (49) Hình 1.5 Cấu trúc của các hợp chất monoterpenes được phân lập từ C.bugimapensis Các hợp chất megastigmane và glycoside lần lượt được phân lập từ hoa trà vàng, bao gồm camellistigoside A (46), camellistigoside B (47), icariside B1 (48), và (6S, 9R) -roseoside (49) từ lá C.bugiamapensis (Nguyen et al. Nhóm saponin Hiện nay, chỉ có saponin triterpenoid pentacyclic được báo cáo trong những nghiên cứu về chi Camellia L., và hầu hết chúng là các saponin triterpenoid loại oleanane.
Theo những nghiên cứu trước đây, từ các bộ phân thân, rễ, lá, hoa và hạt của các loài thuộc chi Camellia L. đã phân lập được 188 hợp chất saponin [23]. Các saponin trong trà thể hiện các đặc tính dược lý khác nhau (kháng khuẩn, chống vi rút, kháng viêm, chống oxy hóa, bảo vệ dạ dày, chống tăng lipid máu và các hoạt động chống dị ứng) Lá của C.bugiamapensis, lần đầu tiên năm 2017, Nguyen et al điều tra thành phần hóa thực vật phát hiện hai saponin triterpene mới, camellioside I (50) và camellioside J (51), đã được phân lập từ dịch chiết methanol [22].6 Cấu trúc của các hợp chất saponin được phân lập từ C. Nhóm vitamin và acid amine Các loài thuộc chi Camellia L.
cũng chứa nhiều vitamin, đặc biệt là vitamin C (52), mang lại tác dụng giải nhiệt và chống oxi hóa của trà [45]. (52) 14 Trong khi đó, theanin là acid amine đặc trưng và chính trong trà.