Tổng quan nghiên cứu

Nghệ thuật hát Xẩm là di sản văn hóa phi vật thể độc đáo với lịch sử hình thành hơn 700 năm, bắt nguồn từ thời nhà Trần và gắn liền với đời sống dân gian vùng đồng bằng Bắc Bộ. Tại vùng đất Ninh Bình, cái nôi phát tích của nghệ thuật Chèo và Xẩm cổ truyền, Xẩm từng phát triển cực thịnh vào nửa đầu thế kỷ XX với 6 gánh hát quy mô dưới sự dẫn dắt của các trùm Xẩm danh tiếng. Tuy nhiên, trước làn sóng đô thị hóa và sự mai một tự nhiên của các thế hệ nghệ nhân gạo cội sau khi Nghệ nhân Ưu tú Hà Thị Cầu qua đời năm 2013, nghệ thuật hát Xẩm đứng trước nguy cơ thất truyền nghiêm trọng. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải mã toàn diện diện mạo văn học, phương thức diễn xướng dân gian và giá trị nghệ thuật của di sản Xẩm Ninh Bình thông qua cuộc đời và sự nghiệp của nghệ nhân Hà Thị Cầu.

Mục tiêu cụ thể của công trình tập trung vào việc hệ thống hóa 8 làn điệu Xẩm truyền thống, khảo sát giá trị nội dung tư tưởng cùng thi pháp ca từ, đồng thời đánh giá vai trò lưu giữ di sản của nghệ nhân dân gian trong không gian văn hóa cố đô. Phạm vi không gian nghiên cứu được xác định tại huyện Yên Mô (trọng tâm là xã Yên Phong và Yên Nhân), kết hợp khảo sát tư liệu văn bản và diễn xướng thực địa trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2018. Kết quả nghiên cứu mang lại ý nghĩa học thuật sâu sắc khi bổ sung hệ thống dữ liệu văn bản học hoàn chỉnh cho ngành Văn học Việt Nam và cung cấp luận cứ thực tiễn phục vụ Đề án số 04/ĐA-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình nhằm nâng cao 100% hiệu quả bảo tồn văn hóa cơ sở và hoàn thiện hồ sơ đệ trình UNESCO công nhận di sản.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết Folklore học hiện đại kết hợp lý thuyết diễn xướng dân gian (Performance Theory) và lý thuyết thi pháp học văn học dân gian để tiếp cận đối tượng nghiên cứu đa chiều. Ba khái niệm then chốt được xác lập xuyên suốt công trình gồm: "không gian diễn xướng dân gian" (môi trường sinh hoạt gắn liền với chợ quê, sân đình, bến nước), "làn điệu Xẩm" (cấu trúc âm nhạc - ca từ đặc thù gồm 8 thể loại chính) và "nhân vật trữ tình trong văn học dân gian" (tiếng nói đại diện cho thân phận người lao động nghèo).

Mô hình nghiên cứu phân tích mối quan hệ biện chứng giữa ba thành tố: bối cảnh lịch sử - xã hội Ninh Bình, cấu trúc văn bản ca từ nghệ thuật và chủ thể diễn xướng cá nhân mang tính đại diện văn hóa.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập thông qua quá trình điền dã dân tộc chí, khảo sát văn bản lưu trữ tại Sở Văn hóa và Thể thao Ninh Bình, Phòng Văn hóa huyện Yên Mô và các băng ghi âm, ghi hình trực tiếp từ nghệ nhân Hà Thị Cầu. Nghiên cứu sử dụng cỡ mẫu gồm 52 văn bản lời ca Xẩm cổ truyền và Xẩm mới, kết hợp phỏng vấn sâu 12 nghệ nhân, học trò kế cận và nhân chứng văn hóa tại địa phương. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích (purposive sampling) được áp dụng nhằm lựa chọn những bài bản chuẩn xác nhất về làn điệu và giá trị thi pháp.

Quá trình phân tích kết hợp phương pháp thống kê - phân loại ca từ, phương pháp phân tích văn học và phương pháp so sánh đối chiếu liên ngành giữa Xẩm Ninh Bình và Xẩm Hà thành. Lý do lựa chọn hệ phương pháp này xuất phát từ đặc trưng tổng thể của Xẩm: vừa là một thể loại văn học dân gian truyền khẩu, vừa là hình thức diễn xướng âm nhạc tổng hợp đòi hỏi sự khảo sát đồng thời cả văn bản lời ca lẫn môi trường diễn xướng thực tế. Toàn bộ quy trình khảo sát, thu thập và xử lý dữ liệu được tiến hành liên tục trong khoảng thời gian 24 tháng từ năm 2016 đến đầu năm 2018.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu đã khảo sát và phân loại toàn diện 52 bài ca Xẩm Ninh Bình, chỉ ra rằng nội dung ca từ tập trung vào ba chủ đề cốt lõi: tình cảm mẫu tử và đạo nghĩa gia đình chiếm 42,3% (tiêu biểu qua điệu Xẩm Thập ân với 10 điều ghi tạc công ơn sinh thành); tiếng nói than thân trách phận và đồng cảm với số phận người phụ nữ chiếm 34,6% (điển hình như bài "Dạt nước cánh bèo"); tiếng nói trào phúng, đả kích thói hư tật xấu trong xã hội phong kiến chiếm 23,1%.

Thứ hai, công trình làm rõ phong cách diễn xướng độc nhất vô nhị của nghệ nhân Hà Thị Cầu. Bà là nghệ nhân hiếm hoi kết hợp nhuần nhuyễn giữa kỹ thuật kéo đàn nhị điêu luyện, tay gõ sênh phách giòn giã cùng lối nhả chữ đậm chất bi tráng, lưu giữ nguyên vẹn 100% kỹ thuật hát nói và làn điệu cổ mà không cần qua trường lớp đào tạo chính quy.

Thứ ba, nghiên cứu ghi nhận sự chuyển dịch không gian văn hóa sau khi tỉnh Ninh Bình triển khai Đề án 04 từ cuối năm 2011. Tỷ lệ câu lạc bộ hát Xẩm tại huyện Yên Mô tăng từ 1 câu lạc bộ tự phát lên 5 câu lạc bộ chính quy vào năm 2018, thu hút hơn 80 hội viên ở nhiều độ tuổi tham gia học tập, đánh dấu bước chuyển mạnh mẽ từ môi trường hát rong đường phố sang hình thức câu lạc bộ và sân khấu hóa phục vụ du lịch.

+-------------------------------------------------------------------------+
|                  CƠ CẤU NỘI DUNG CA TỪ XẨM NINH BÌNH                    |
+------------------------------------+------------------------------------+
| Chủ đề nội dung                    | Tỷ lệ phần trăm                    |
+------------------------------------+------------------------------------+
| Tình cảm mẫu tử, đạo nghĩa gia đình| 42.3%                              |
| Than thân trách phận, nỗi đau phụ nữ| 34.6%                             |
| Trào phúng, châm biếm xã hội       | 23.1%                              |
+------------------------------------+------------------------------------+

Thảo luận kết quả

Sự phân hóa nội dung và hình thức của Xẩm Ninh Bình bắt nguồn từ đặc trưng địa văn hóa của vùng đất cố đô, nơi giao thoa giữa nền văn minh châu thổ sông Hồng và văn hóa Bắc Trung Bộ. Khi so sánh với dòng Xẩm Hà thành, dữ liệu có thể được hệ thống hóa qua bảng đối chiếu cấu trúc diễn xướng: Xẩm Ninh Bình giữ vững tính chất mộc mạc, đậm chất nông nghiệp thôn dã với các điệu Chợ, Thập ân, Phồn huê; trong khi Xẩm Hà thành phát triển mạnh thể loại Xẩm tàu điện với tiết tấu nhanh hơn khoảng 30%, kết hợp thơ ca lãng mạn đô thị của Á Nam Trần Tuấn Khải hay Nguyễn Bính.

Kết quả nghiên cứu chứng minh rằng nghệ nhân Hà Thị Cầu chính là "báu vật nhân văn sống", chiếc cầu nối lịch sử lưu giữ hồn cốt Xẩm cổ truyền thế kỷ XX. Việc phục hồi nghệ thuật Xẩm thông qua việc truyền dạy trực tiếp cho 100% học viên nòng cốt tại Nhà hát Chèo Ninh Bình đã chứng minh tính khả thi của mô hình bảo tồn di sản dựa vào cộng đồng, tạo tiền đề khoa học vững chắc để khẳng định chủ quyền văn hóa dân gian địa phương.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Số hóa và xây dựng ngân hàng dữ liệu di sản số: Sở Văn hóa và Thể thao tỉnh Ninh Bình chủ trì thực hiện số hóa 100% các băng ghi âm, thước phim tư liệu và 52 văn bản lời ca của nghệ nhân Hà Thị Cầu trước quý IV năm 2027 nhằm xây dựng kho lưu trữ số công khai phục vụ nghiên cứu và giáo dục.
  2. Đưa dân ca Xẩm vào chương trình giáo dục phổ thông: Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Ninh Bình triển khai giảng dạy tích hợp tối thiểu 4 tiết văn học - âm nhạc địa phương về hát Xẩm tại 100% các trường trung học cơ sở và trung học phổ thông trên địa bàn huyện Yên Mô giai đoạn 2026 - 2028.
  3. Mở rộng mô hình Câu lạc bộ Xẩm gắn với du lịch di sản: Ủy ban nhân dân huyện Yên Mô phối hợp với Hiệp hội Du lịch Ninh Bình thành lập thêm 3 câu lạc bộ Xẩm truyền thống, tổ chức 2 buổi biểu diễn định kỳ hàng tuần tại không gian phố cổ Hoa Lư và khu du lịch Tràng An để nâng mức tiếp cận khán giả quốc tế lên 25% mỗi năm.
  4. Hoàn thiện hồ sơ quốc gia trình UNESCO: Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam phối hợp cùng cơ quan quản lý văn hóa tỉnh Ninh Bình hoàn tất hồ sơ khoa học đệ trình UNESCO ghi danh Nghệ thuật hát Xẩm vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp vào năm 2029.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian và âm nhạc học dân tộc: Cung cấp nguồn tư liệu chuẩn xác về 8 làn điệu Xẩm, phân tích thi pháp ca từ và mô hình diễn xướng của nghệ nhân cung đình - dân gian cuối cùng.
  • Giảng viên và giáo viên bộ môn Ngữ văn: Sử dụng làm tài liệu tham khảo chính thống để biên soạn giáo án giảng dạy văn học địa phương cho học sinh các cấp tại tỉnh Ninh Bình và khu vực đồng bằng Bắc Bộ.
  • Cán bộ quản lý văn hóa và hoạch định chính sách di sản: Cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn để đánh giá hiệu quả triển khai Đề án bảo tồn văn hóa cơ sở, định hướng xây dựng chính sách đãi ngộ nghệ nhân dân gian.
  • Nghệ sĩ biểu diễn, nhạc công truyền thống và người sáng tạo nội dung văn hóa: Nắm bắt trọn vẹn kỹ thuật lấy hơi, nhả chữ, phương pháp diễn tấu đàn nhị kết hợp sênh phách nguyên bản để ứng dụng trong biểu diễn đương đại.

Câu hỏi thường gặp

1. Nguồn gốc của nghệ thuật hát Xẩm bắt đầu từ thời điểm nào?

Nghệ thuật hát Xẩm có lịch sử hình thành khoảng 700 năm trước dưới thời nhà Trần, gắn liền với truyền thuyết về hoàng tử Trần Quốc Đĩnh. Ông được tôn vinh là ông tổ nghề Xẩm khi sáng tạo ra cây đàn và dạy tiếng hát cho những người khiếm thị mưu sinh. Hàng năm vào ngày 22 tháng 2 và 22 tháng 8 âm lịch, giới nghệ nhân đều tổ chức ngày giỗ tổ nghề trang trọng.

2. Nghệ nhân Hà Thị Cầu đóng vai trò như thế nào đối với nghệ thuật Xẩm Ninh Bình?

Nghệ nhân Hà Thị Cầu là người hát Xẩm cuối cùng của thế kỷ XX, lưu giữ trọn vẹn kho tàng bài bản Xẩm cổ truyền mà không cần văn bản chép tay. Bà là vợ thứ 18 của trùm Xẩm Chánh Trương Mậu, tiếp thu trọn vẹn tinh hoa của 6 gánh hát Xẩm đất Ninh Bình, trực tiếp truyền dạy kỹ năng biểu diễn độc đáo cho các thế hệ nghệ sĩ ưu tú kế cận trước khi qua đời năm 2013.

3. Hát Xẩm Ninh Bình có bao nhiêu làn điệu chính?

Hát Xẩm truyền thống gồm 8 làn điệu cơ bản: Xẩm chợ, Chênh bong (Xẩm xoan), Riềm Huê (Xẩm Huê tình), Ba Bậc (Xẩm nhà trò), Phồn Huê (Nữ oán), Hò bốn mùa, Hát ai và Xẩm Thập ân. Mỗi làn điệu sở hữu một cấu trúc tiết tấu và thang âm riêng biệt, phù hợp với từng không gian diễn xướng và chủ đề cảm xúc từ vui tươi, trữ tình đến ai oán, bi thương.

4. Điểm khác biệt lớn nhất giữa Xẩm Ninh Bình và Xẩm Hà thành là gì?

Xẩm Ninh Bình mang đậm tính chất nông nghiệp thôn dã với môi trường diễn xướng gắn liền bến sông, chợ quê và nội dung sâu nặng tình nghĩa gia đình qua các điệu Thập ân, Phồn huê. Ngược lại, Xẩm Hà thành mang tính thị dân rõ nét, thích nghi với nhịp sống đô thị sôi động, hình thành nên làn điệu Xẩm tàu điện với tiết tấu nhanh và diễn ca các bài thơ lãng mạn hiện đại.

5. Chính quyền tỉnh Ninh Bình đã có đề án cụ thể nào để bảo tồn hát Xẩm?

Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình đã ban hành Đề án số 04/ĐA-UBND ngày 14/11/2011 về "Khôi phục, bảo tồn và phát triển nghệ thuật hát Xẩm". Đề án đã phối hợp cùng Nhà hát Chèo Ninh Bình tổ chức sưu tầm làn điệu cổ, mở các lớp truyền dạy trực tiếp từ nghệ nhân Hà Thị Cầu cho hàng chục học viên và phát triển hệ thống câu lạc bộ Xẩm tại các xã thuộc huyện Yên Mô.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa trọn vẹn 8 làn điệu Xẩm cổ truyền và phân tích chuyên sâu 52 văn bản lời ca tiêu biểu tại vùng đất Ninh Bình.
  • Công trình khắc họa sắc nét chân dung nghệ thuật và phương thức diễn xướng độc nhất của cố Nghệ nhân Ưu tú Hà Thị Cầu – "báu vật sống" của di sản dân tộc.
  • Nghiên cứu chỉ ra quy luật biến đổi không gian văn hóa Xẩm từ hình thức hát rong mưu sinh sang mô hình câu lạc bộ và nghệ thuật sân khấu phục vụ du lịch.
  • Luận văn hoàn thành việc xây dựng khung giải pháp 4 nhóm chiến lược phục vụ trực tiếp cho Đề án bảo tồn văn hóa phi vật thể của địa phương.
  • Đóng góp nguồn tư liệu học thuật quan trọng, tạo tiền đề vững chắc cho lộ trình đệ trình UNESCO công nhận hát Xẩm là di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp trước năm 2030.

Hãy cùng chung tay bảo tồn, lan tỏa và phát huy giá trị của nghệ thuật hát Xẩm Ninh Bình bằng cách tích cực tham quan các không gian diễn xướng truyền thống và ủng hộ các chương trình số hóa di sản văn hóa dân tộc ngay hôm nay.