Chương 1: TỔNG QUAN VỀ XÃ PHỔ AN, QUẢNG NGÃI Để hiểu hát sắc bùa của cư dân Phổ An, thiết nghĩ cần biết qua vùng đất này về địa lý cảnh quan môi trường sinh thái và lịch sử cũng như đời sống kinh tế - văn hóa - xã hội của cư dân như là bối cảnh chung của địa phương. Chính bối cảnh đó cũng góp phần ảnh hưởng, chi phối đời sống văn hóa truyền thống và hiện đại của cư dân Phổ An, trong đó có hát sắc bùa. Vị trí địa lý và dân cư 1. Vị trí địa lý Phổ An là một trong 14 xã của huyện Đức Phổ thuộc tỉnh Quảng Ngãi – là một huyện đồng bằng ven biển có hơn 40 km bờ biển, nằm ở phía cực Nam của tỉnh Quảng Ngãi.
Phổ An ở phía Đông Bắc của huyện Đức Phổ: + Phía Bắc giáp: thôn Văn Hà, xã Đức Phong (huyện Mộ Đức) + Phía Nam giáp: thôn Phần Thất, xã Phổ Quan + Phía Tây giáp: thôn Thạch Trụ, xã Đức Lân (huyện Mộ Đức), + Phía Đông giáp: biển Tổng diện tích đất tự nhiên của xã Phổ An là 1.862 hecta (trong đó đất nông nghiệp là 1.012 hécta, còn lại là những động cát ven biển). Phổ An được hợp nhất từ năm 1946 gồm có 3 thôn: Hội An, An Thạch, An Thổ. Trước năm 1946 các thôn này được gọi là xã hoặc làng. Hiện nay được chia là 4 thôn: Hội An 1, Hội An 2, An Thạch và An Thổ (1).
Phổ An nằm dọc theo bờ biển, chiều ngang hơi rộng là: 3630m, nơi hẹp là 2200m, chiều dài là 5870m. Diện tích tự nhiên 1862 km2, trong đó khoảng 50 ha rừng. Dân cư Cư dân sống ở xã Phổ An là người Việt. Tổng dân số Phổ An hiện nay có 11.783 người sống trong 2.
Cư dân Phổ An sống tập trung ở 3 thôn Hội An 1, Hội An 2, An Thạch, mỗi thôn có hơn 600 hộ. Riêng thôn An Thổ chỉ có 275 hộ (1) : + 80% dân số Phổ An sống bằng nghề nông. +15 % dân số sống bằng nghề biển. + 5% dân số sống bằng các nghề nghiệp khác (chủ yếu là buôn bán nhỏ).
Thôn Hội An trước kia có hai xóm Nam Giáp và Bắc Giáp đến năm 1945 thêm hai xóm Quần Huân và An Thạch. Thôn An Thạch có các xóm Bình An, Bảo An, Thuận Hoà Thượng, Thuận Hoà Hạ Thôn An Thổ có các xóm Cùng Thi, An Lộc, xóm Phường, xóm Câu. Hoạt động kinh tế 2. Nông nghiệp Người Phổ An gắn bó nhiều hơn với nghề nông là nhờ ở phía tây Phổ An có con sông Thoa, là một nhánh sông Vệ – một trong bốn con sông lớn trong tỉnh, bốn mùa nước đủ nước tưới tiêu cho những cánh đồng chiêm trũng và nhỏ hẹp, nhưng khá trù phú ở Phổ An và các làng xã cận kề.
Trước năm 1945, xã có trên 250 ha đất ruộng, 300 ha đất hoa màu. Sau đó khai khẩn mở mang thêm diện tích, đến nay có 336 ha đất ruộng, 386 ha đất màu và khoảng 200 ha đất cát chưa sử dụng (1). 1 Ban chấp hành Đảng bộ xã Phổ An, Phổ An 70 năm đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc – xây dựng quê hương, Nxb Quảng Ngãi,2005, trang 05. Ngư nghiệp Sở dĩ người Phổ An không gắn bó nhiều với biển, mặc dù sống cạnh biển, vì bờ biển ngang qua Phổ An là bãi ngang, vực sâu và nhiều động cát, tàu thuyền lớn khó vào ra cũng như neo đậu.
Cư dân chuyên khai khác biển ở Phổ An chỉ là khai thác biển cận duyên, với những thuyền thúng, thuyền câu, ghe mành nhỏ. Ngoài ra, cư dân ở đây còn có nghề đánh bắt cá ở sông như đặt chài, thả lưới. nhưng lượng cá không được nhiều. Đánh bắt cá ở biển nghề mành, nghề câu đánh bắt gần bờ.
Do đó, nội dung hát sắc bùa ở đây cũng đề cập đến những nghề đánh bắt cá thô sơ. Đặc biệt nghề câu cá hố rất nguy hiểm. Tháng 3, tháng 4 là mùa cá hố nhiều nên cư dân trong xã thường đi câu. Câu theo phương pháp chích điện.
Ngày xưa, không có đài báo nên nhiều ngư dân đi câu xa bờ, khi có bão không vào kịp nên chết rất nhiều. Chính vì vậy, hát sắc bùa thời trước được ưa chuộng cũng vì có những nghi lễ, chúc nghề, lễ vạn. Theo trường phái chức năng của Maliknowski văn hóa thể hiện chức năng thỏa mãn nhu cầu của con người. Nghề đi biển luôn luôn đối mặt với khó khăn, bất trắc, ngư dân tin tưởng vào hát sắc bùa với ý nghĩa cầu an đi đường may mắn, đánh bắt được nhiều tôm, cá.
Thủ công nghiệp Kéo sợi dệt vải là nghề truyền thống, làm từ múi bông đến sợi và dệt bằng khung cưỡi tay, khổ vải rộng khoảng 0. Sau năm 1945, nghề dệt vải phát triển mạnh. Đan đác cũng là nguồn thu nhập đáng kể của người dân, chủ yếu là đan nong, nia, thúng mủng và đan lưới, chài. Đời sống tinh thần 3.
Tôn giáo tín ngưỡng Cư dân Phổ An chủ yếu theo đạo Phật. Phật giáo đã có từ xưa chủ yếu là tu tại gia. Ngoài ra, cũng có một số gia đình theo đạo Cao Đài. Ở bất cứ gia đình nào trong xã Phổ An cũng có thờ cúng tổ tiên.
Tín ngưỡng này thực hiện với hai hình thức là nhà thờ họ và lập bàn thờ tại nhà. Ngoài ra còn có những tín ngưỡng khác như thờ thần bản gia: ông Táo, ông Địa, Thần Tài, thần Bảo mệnh. Ở vùng biển có tục thờ cúng cá Ông (cá Voi) vị thần hộ mệnh cho những người đi biển. Trong dân gian vùng biển vẫn truyền tụng sự tích cá Voi là hiện thân của Phật Bà Quan Am chuyên cứu vớt những ngư dân bị tai nạn trên biển.
Do đó ngư dân dùng nhiều danh xưng tôn kính để gọi tên như ông Cậu, ông Lớn, ông Khơi, ông Lộng, Nam Hải Đại tướng quân…Nhiều lễ hội về sinh hoạt văn hóa dân gian được tổ chức rất sôi nổi như lễ nghinh Ông có múa hát bả trạo. Việc phụng thờ cá Ông trở thành một hình thức tín ngưỡng dân gian đặc sắc không thể thiếu trong đời sống ngư dân ven biển nước ta. Ở Phổ An hàng năm đến ngày 12 tháng giêng ngư dân lại tổ chức lễ hội cầu ngư và trong lễ hội đó ngoài đội bả trạo thì ở đây còn có thêm đội sắc bùa đến biểu diễn. Ngoài ra, ở Phổ An, còn có tín ngưỡng thờ miếu Mộc Đồng, đặt ở cuối vườn ở mỗi gia đình.
Đây là vị thần phù hộ cho cây trái, vật nuôi phát triển tốt, bà con thu hoạch được mùa. Miếu Mộc Đồng rất nhỏ không thờ vật gì trong đó, chỉ có lư nhang để thắp hương. Ngày xưa, hầu như nhà nào cũng lập miếu này trong vườn nhưng hiện nay không còn vì chiến tranh tàn phá, người dân phải tản cư nên khi về họ không lập miếu Mộc Đồng nữa. Trong khi đội sắc bùa đến nhà biểu diễn nếu như chủ nhà yêu cầu thì đội bùa sẽ đến hát tạ miếu Mộc Đồng.
Sinh hoạt văn hóa Ở Phổ An có một loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian mang đậm bản sắc dân tộc đó là hát sắc bùa. Vào dịp tết Nguyên đán, đội bùa được các gia đình trong xóm mời về nhà hát múa mừng năm mới, cầu mong mọi điều tốt lành. Phổ An là một xã ven biển nên hàng năm ngư dân lại tổ chức hát bả trạo ở lăng, vạn cầu thần biển, cá Ông phù hộ cho đánh bắt được mùa, ngư dân đi biển được bình an. Ngoài ra, trong dân gian còn có các loại hình sinh hoạt văn hóa đặc sắc như: hát ống, hát giã gạo, hát tát nước, hát hố.
Tất cả các hình thức hát trên tuy khác nhau về tên gọi nhưng có một điểm chung đó là kiểu hát đối đáp giữa đôi trai gái, hình thành trong lao động sản xuất.Một số đôi nam nữ đã trở thành vợ chồng qua hát hò. Ở đây chúng tôi xin giới thiệu về hát hố và hát ống vì đây là hai hình thức hát có tên gọi rất lạ. Hát ống và hát hố như đã nói ở trên là hình thức hát đối đáp giữa các đôi trai gái nhằm bày tỏ tâm tư tình cảm của họ. Tuy nhiên, có những điểm khác nhau như sau: + Hát hố là cách hát trong đó liên tục có những đoạn người hát biểu diễn ở giọng rất cao và thường phát ra những tiếng “ hò hố”.
Ngày xưa, tối trai gái trong xã tập hợp lại ở một địa điểm nào đó lấy khoai lang thay gạo vừa giã, vừa hát đối qua đối lại. Hiện nay, hát ống cũng không còn duy trì nữa. + Hát ống là cách hát mà đôi trai gái sử dụng nhạc cụ là hai ống tre được nối với nhau bởi một sợi dây và mỗi người cầm một ống ở hai đầu để hát. Ngoài ra, trong dân gian còn lưu giữ những bài hò, lý rất phổ biến như hò giã gạo, lý tang tích, lý vẽ rồng….
* Phổ An chịu sự tàn phá của chiến tranh mạnh mẽ. Nhân dân nơi đây kiên cường trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm, cần cù, sáng tạo trong lao động, sản xuất. Mặc dù cuộc sống của cư dân còn gặp rất nhiều khó khăn nhưng họ có đời 17 sống tinh thần rất phong phú, trong đó hát sắc bùa là một hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian đặc sắc. Chính những yếu tố về địa lý tự nhiên, lịch sử, thành phần và nguồn gốc dân cư đã làm cho tục hát sắc bùa ở Phổ An có một sắc thái riêng mà trong hệ thống bài bản, làn điệu thể hiện khá rõ điều đó.
Sắc bùa ở xã Phổ An theo ý kiến của Ngô Đức Thịnh trong “ Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa Việt Nam “ cho rằng: “ so với sắc bùa ở nơi khác thì sắc bùa Phổ An, Quảng Ngãi phong phú và đầy đủ nhất. Đặc biệt là sắc bùa ở đây còn gắn chặt với các lễ nghi tín ngưỡng dân gian như: lễ tạ ông bà, thổ công, ông táo, thổ thần,v.v… gắn chặt với sinh hoạt tín ngưỡng của ngư dân ven biển như lễ hội của các vạn chài,….” (2) 2 Ngô Đức Thịnh, Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa Việt Nam, Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh, 2004, trang 47. 18 Chương 2: HÁT SẮC BÙA Ở PHỔ AN, QUẢNG NGÃI 1. Khái quát về hát sắc bùa Phổ An 1.
“Sắc bùa” là gì? “Sắc” theo tiếng Hán nghĩa là lệnh của nhà vua, hoặc một số tờ sắc lệnh của cấp trên ban ra. Còn “bùa” là lá bùa để “trừ tà”, “trừ ma quỉ”.