Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong bối cảnh ngành du lịch ngày càng khẳng định vai trò là ngành kinh tế dịch vụ quan trọng, nhu cầu du lịch của con người không chỉ dừng lại ở việc nghỉ ngơi, giải trí gắn với tài nguyên tự nhiên mà ngày càng hướng mạnh vào việc tìm hiểu các giá trị nhân văn. Du khách có xu hướng tìm về cội nguồn, khám phá các di tích lịch sử - văn hóa, lễ hội, làng nghề truyền thống và phong tục tập quán bản địa. Tuy nhiên, nhiều tuyến du lịch văn hóa truyền thống đang dần trở nên quen thuộc, đòi hỏi ngành du lịch phải tìm kiếm và khai thác các điểm đến mới có giá trị độc đáo, giàu bản sắc nhưng chưa được khai thác toàn diện.
Đảo Hà Nam thuộc huyện Yên Hưng (nay là thị xã Quảng Yên), tỉnh Quảng Ninh là vùng đất bãi bồi cửa sông có lịch sử hình thành lâu đời (từ năm 1434). Nơi đây lưu giữ hệ thống di tích lịch sử - văn hóa dày đặc, phong tục tập quán đặc sắc của cư dân đồng bằng Bắc Bộ và các lễ hội truyền thống quy mô. Mặc dù tiềm năng tài nguyên nhân văn rất phong phú, công tác khai thác phục vụ du lịch tại đây vẫn còn nhiều hạn chế, thiếu quy hoạch đồng bộ và chưa có chính sách quản lý bài bản. Xuất phát từ thực tế đó, tác giả Trần Thị Nhờ đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp nhằm nghiên cứu các giá trị tài nguyên nhân văn tại đảo Hà Nam và đề xuất giải pháp phát triển du lịch bền vững.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài bao gồm ba nội dung chính:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về tài nguyên du lịch nhân văn và vai trò của tài nguyên nhân văn trong hoạt động phát triển du lịch.
- Khảo sát, tìm hiểu tương đối đầy đủ về hệ thống di tích lịch sử - văn hóa, lễ hội, phong tục tập quán và đánh giá thực trạng khai thác tài nguyên nhân văn tại khu vực đảo Hà Nam.
- Đề xuất hệ thống định hướng, giải pháp và kiến nghị nhằm quản lý, quy hoạch, bảo tồn, tôn tạo và khai thác có hiệu quả các giá trị tài nguyên nhân văn phục vụ phát triển du lịch địa phương.
Đối tượng nghiên cứu là toàn bộ các giá trị tài nguyên du lịch nhân văn trên đảo Hà Nam, bao gồm cả tài nguyên nhân văn vật thể (hệ thống di tích, đình, chùa, đền, miếu, nhà thờ họ) và tài nguyên nhân văn phi vật thể (lễ hội, làng nghề, phong tục tập quán). Phạm vi nghiên cứu về không gian bao quát địa bàn hành chính huyện Yên Hưng, trong đó tập trung chuyên sâu vào 8 xã thuộc khu vực đảo Hà Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Về khung lý thuyết, khóa luận tiếp cận khái niệm tài nguyên và tài nguyên du lịch từ nhiều góc độ học thuật:
- Quan điểm của PGS.TS. Trần Đức Thanh: Tài nguyên là toàn bộ các nguồn thông tin, vật chất, năng lượng được con người khai thác phục vụ sự phát triển kinh tế - xã hội.
- Quan điểm của TS. Phạm Trung Lương và cộng sự: Tài nguyên theo nghĩa rộng bao gồm tất cả các nguồn nguyên liệu, năng lượng, thông tin trên trái đất và không gian vũ trụ phục vụ đời sống con người.
- Định nghĩa của Pirojnik và các học giả quốc tế về tài nguyên du lịch như một tổng thể tự nhiên và văn hóa - lịch sử nhằm tái tạo, phát triển thể lực và trí lực cho con người.
- Căn cứ pháp lý: Khóa luận sử dụng các định nghĩa và quy định phân loại tài nguyên du lịch từ Luật Du lịch Việt Nam năm 2005 (Khoản 4 Điều 4 và Khoản 1 Điều 13) cùng các khái niệm di sản văn hóa vật thể, phi vật thể từ Luật Di sản Văn hóa Việt Nam năm 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2003).
Khóa luận phân tích các đặc tính cơ bản của tài nguyên nhân văn: tính định tính trong đánh giá, giá trị nhận thức cao hơn giải trí đơn thuần, tính phi mùa vụ (không phụ thuộc vào điều kiện thời tiết như du lịch tự nhiên), và mức độ gắn kết chặt chẽ với các điểm quần cư lâu đời. Đồng thời, tác giả vận dụng tháp nhu cầu của Abraham Maslow để lý giải nhu cầu nhận thức, thẩm mỹ và hướng thiện của du khách khi tìm đến tài nguyên nhân văn.
Tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp thống kê: Thu thập, phân loại, lượng hóa số liệu về điều kiện tự nhiên, dân số, hạ tầng và số lượng di tích trên địa bàn.
- Phương pháp khảo sát thực địa: Trực tiếp điền dã, quan sát, ghi chép hiện trạng kiến trúc, cảnh quan, không gian thờ tự tại các di tích lịch sử - văn hóa trên đảo.
- Phương pháp thu thập và xử lý số liệu: Kế thừa và đối chiếu các tư liệu lịch sử, thần tích, ngọc phả, văn bia cổ, tài liệu lưu trữ của chính quyền địa phương và các báo cáo ngành du lịch.
Nguồn dữ liệu của nghiên cứu dựa trên các văn bia cổ như bia Lập thiên trụ bi (khắc năm 1702 tại đình Hải Yến), bia đình Trung Bản (khắc năm 1952), bia Yên Đông tự bi ký (khắc năm 1590), bia Phong Lưu tứ xã Hồ Mạch (khắc năm 1926–1927), hai tấm bia thời Hồng Đức (1495) tại miếu Tiên Công, gia phả các dòng họ Tiên Công, cùng số liệu thống kê kinh tế - xã hội giai đoạn 2000–2009 của UBND huyện Yên Hưng.
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: Cơ sở lí luận về tài nguyên nhân văn phục vụ phát triển du lịch
Chương này tập trung trình bày hệ thống lý luận nền tảng về tài nguyên du lịch và tài nguyên du lịch nhân văn:
- Khái niệm và phân loại: Hệ thống hóa khái niệm tài nguyên du lịch theo các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước cùng Luật Du lịch năm 2005. Phân định rõ hai nhánh tài nguyên: tài nguyên du lịch tự nhiên (địa hình, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái) và tài nguyên du lịch nhân văn.
- Cấu trúc tài nguyên nhân văn: Phân chia thành tài nguyên nhân văn vật thể (di sản thế giới, di tích khảo cổ, di tích lịch sử, di tích kiến trúc nghệ thuật, danh lam thắng cảnh, công trình đương đại) và tài nguyên nhân văn phi vật thể (lễ hội truyền thống, nghề thủ công, văn hóa nghệ thuật dân gian, ẩm thực, thơ ca văn học, văn hóa ứng xử, phong tục tập quán, hoạt động sự kiện).
- Vai trò đối với phát triển du lịch: Khẳng định tài nguyên nhân văn là yếu tố cốt lõi tạo nên tính độc đáo, sức hút cạnh tranh của điểm đến, đáp ứng nhu cầu nghiên cứu, trải nghiệm văn hóa và khắc phục tính thời vụ của ngành du lịch.
Chương II: Thực trạng khai thác các giá trị tài nguyên nhân văn tại khu vực đảo Hà Nam – Yên Hưng – Quảng Ninh
Chương II là phần trọng tâm của khóa luận, phản ánh bức tranh toàn diện về tự nhiên, lịch sử, kinh tế - xã hội và tài nguyên nhân văn trên địa bàn:
- Khái quát huyện Yên Hưng và đảo Hà Nam: Yên Hưng có diện tích đồi núi 6.100 ha (15,3%), đất đồng bằng chiếm 44,6%, bờ biển dài hơn 30 km. Riêng đảo Hà Nam có diện tích tự nhiên 64,7 km² (chiếm 5,1% diện tích huyện), bao gồm 8 xã (Nam Hòa, Yên Hải, Phong Cốc, Cẩm La, Phong Hải, Liên Hòa, Liên Vị, Tiền Phong), dân số năm 2008 là 4,83 vạn người (mật độ 631 người/km²), lao động trong độ tuổi đạt 2,61 vạn người (54%). Hạ tầng giao thông có 67 km đường bộ được bê tông hóa, cầu Sông Chanh xây dựng năm 1999 kết nối đảo với đất liền, mạng lưới điện từ Nhà máy điện Uông Bí E516, cấp nước qua hệ thống kênh dẫn từ hồ Yên Lập.
- Lịch sử hình thành vùng đảo: Bắt đầu từ năm 1434, 17 vị Tiên Công quê từ phường Kim Hoa (Thọ Xương, Thăng Long) cùng gia đình xuôi sông Hồng ra bãi triều cửa sông Bạch Đằng, tìm thấy mạch nước ngọt (Hồ Mạch) và lập phường Bồng Lưu (sau đổi thành xã Phong Lưu gồm Phong Cốc, Cẩm La, Yên Đông). Cùng năm 1434, hai vị Tiên Công Hoàng Lung và Hoàng Linh (Hoàng Nông, Hoàng Nênh) người Trà Lũ chiêu tập dân lập xứ Bản Động (sau là thôn Trung Bản), hợp nhất thành cụm "nhất xã tứ thôn".
- Khảo sát hệ thống di tích lịch sử - văn hóa: Đảo Hà Nam có mật độ di tích đậm đặc với 110 di tích các loại, trong đó có 32 di tích cấp quốc gia và 8 di tích cấp tỉnh. Khóa luận đi sâu khảo sát kết cấu kiến trúc, nghệ thuật điêu khắc và ý nghĩa lịch sử của các di tích trọng điểm:
- Đình Trung Bản (xã Liên Hòa): Diện tích 1.740 m², xây dựng kiểu chữ Đinh, gắn liền với truyền thuyết Trần Hưng Đạo dừng chân chống kiếm búi tóc khi đánh tàn quân Nguyên Mông năm 1288; thờ Trần Hưng Đạo và hai vị Tiên Công Hoàng Nông, Hoàng Nênh.
- Đình Lưu Khê (xã Liên Hòa): Diện tích 1.054 m², dựng năm Nhâm Ngọ (tháng 4 năm 1822), thờ Trần Hưng Đạo, Tiên Công Đỗ Độ, Đào Bá Lệ và Mãnh Bà Lê Thị Tốn; bái đường 7 gian 2 chái bằng gỗ lim, chạm khắc tinh xảo hình rồng, cá, hoa sen theo kỹ thuật kênh bong; xếp hạng cấp quốc gia năm 1995.
- Đình Phong Cốc (xã Phong Cốc): Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia xếp hạng năm 1988.
- Chùa Yên Đông / Pháp Âm Tự (xã Yên Hải): Diện tích 3.318 m², khởi dựng thế kỷ XVI (khánh thành năm 1588 thời Mạc, văn bia năm 1590); kiến trúc chữ Đinh gồm 5 gian tiền đường, 3 gian hậu cung, lưu giữ hệ thống tượng Phật thời Mạc (Tam Thế, A Di Đà cao 1,4m bệ sen 4 lớp hoa cúc, Quan Âm Thiên Thủ 12 tay) và chuông đồng đúc năm Minh Mệnh thứ 13 (1832); xếp hạng cấp quốc gia năm 2000.
- Miếu Thập Cửu Tiên Công (xã Cẩm La): Tọa lạc trên khu đất 2.912 m² tại khu vực Hồ Mạch; kiến trúc chữ Nhất, lưu giữ bia đá Phong Lưu tứ xã Hồ Mạch (1926–1927), bài vị thờ 17 vị Tiên Công khai sáng và 2 vị Tiên Công phụ khẩn; xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia năm 1990; gắn liền với lễ hội Tiên Công.
- Miếu Tiên Công / Tiên Công cổ miếu (thôn Trung Bản, xã Liên Hòa): Thờ hai vị Tiên Công Hoàng Nông và Hoàng Nênh; lưu giữ 2 văn bia khắc ngày 15/3/1495 thời vua Lê Thánh Tông (niên hiệu Hồng Đức thứ 26) ghi việc triều đình chia ruộng đất, đê điều cho các xã; xếp hạng cấp quốc gia năm 2001.
- Đền Trung Cốc (xã Nam Hòa): Nằm cạnh bãi cọc đồng Vạn Muối trong chiến thắng Bạch Đằng 1288; kiến trúc chữ Đinh, thờ Trần Hưng Đạo, Phạm Ngũ Lão, hai vị Vương Cô, Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng, Yết Kiêu, Dã Tượng; lưu giữ 3 đạo sắc phong thời Gia Long, Tự Đức, Duy Tân; xếp hạng cấp quốc gia năm 1996.
- Từ đường họ Vũ (xã Hải Yến): Khuôn viên 1.338 m², xây dựng khoảng năm 1630, thờ thủy tổ Vũ Tam Tỉnh cùng các thế tổ dòng họ; kiến trúc chữ Nhị 5 gian tiền đường và 5 gian hậu cung với nghệ thuật chạm khắc vì kèo, sơn son thếp vàng thời Nguyễn.
Chương III: Một số định hướng và giải pháp nhằm khai thác có hiệu quả tài nguyên du lịch nhân văn tại đảo Hà Nam trong phát triển du lịch
Chương này đề xuất các nhóm giải pháp nhằm khắc phục các bất cập hiện tại:
- Công tác quy hoạch và bảo tồn: Lập quy hoạch tổng thể không gian du lịch văn hóa; ưu tiên tu bổ, chống xuống cấp các di tích quốc gia theo đúng nguyên tắc bảo tồn di sản.
- Xây dựng sản phẩm và tuyến du lịch: Khai thác tuyến du lịch chuyên đề lịch sử chiến thắng Bạch Đằng (Đền Trung Cốc - Bãi cọc Vạn Muối - Đình Trung Bản), tuyến du lịch cội nguồn Tiên Công (Miếu Thập Cửu Tiên Công - Hồ Mạch - các nhà thờ tổ), kết hợp trải nghiệm làng nghề thủ công và lễ hội đầu xuân.
- Đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật: Tận dụng các nguồn vốn đầu tư hạ tầng giao thông, đê điều, hệ thống cấp điện, nước sạch và dịch vụ đón tiếp du khách.
- Quản lý và phát triển nguồn nhân lực: Tăng cường liên kết giữa chính quyền, cộng đồng dân cư và doanh nghiệp lữ hành; đào tạo đội ngũ hướng dẫn viên tại điểm am hiểu lịch sử địa phương.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp, phân loại và hệ thống hóa chi tiết các di tích tiêu biểu trên địa bàn đảo Hà Nam qua bảng số liệu sau:
| Tên di tích |
Địa điểm hành chính |
Loại hình / Năm xếp hạng Quốc gia |
Niên đại khởi dựng / Trùng tu chính |
Nhân vật phụng thờ / Sự kiện lịch sử |
| Đình Trung Bản |
Thôn Trung Bản, xã Liên Hòa |
Di tích cấp Quốc gia |
Khởi dựng sau 1288 / thế kỷ XV |
Trần Hưng Đạo, Tiên Công Hoàng Nông, Hoàng Nênh |
| Đình Lưu Khê |
Thôn Lưu Khê, xã Liên Hòa |
Kiến trúc nghệ thuật (1995) |
Dựng năm Nhâm Ngọ (1822) |
Trần Hưng Đạo, Tiên Công Đỗ Độ, Đào Bá Lệ, Mãnh Bà Lê Thị Tốn |
| Đình Phong Cốc |
Xã Phong Cốc |
Kiến trúc nghệ thuật (1988) |
Thế kỷ XVIII |
Thành hoàng làng và lịch sử khai canh lấn biển |
| Chùa Yên Đông (Pháp Âm Tự) |
Xã Yên Hải |
Kiến trúc nghệ thuật (2000) |
Thế kỷ XVI (1587–1588 thời Mạc) |
Hệ thống tượng Phật thời Mạc, Đức Ông, Tam Tòa Thánh Mẫu |
| Miếu Thập Cửu Tiên Công |
Xã Cẩm La |
Di tích lịch sử (1990) |
Thời Hậu Lê, tu sửa thời Nguyễn |
17 vị Tiên Công khai sáng và 2 vị Tiên Công phụ khẩn (1434) |
| Miếu Tiên Công (Tiên Công cổ miếu) |
Thôn Trung Bản, xã Liên Hòa |
Lịch sử - văn hóa (2001) |
Thời Hậu Lê (lưu bia Hồng Đức 1495) |
Tiên Công Hoàng Nông, Hoàng Nênh |
| Đền Trung Cốc |
Thôn Đồng Cốc, xã Nam Hòa |
Di tích lịch sử (1996) |
Sau 1288 (cụm di tích Bạch Đằng) |
Trần Hưng Đạo, Phạm Ngũ Lão, các tướng lĩnh thời Trần |
| Từ đường họ Vũ |
Thôn Yên Đông, xã Hải Yến |
Di tích dòng họ |
Khoảng năm 1630 (thời Lê Trung Hưng) |
Tiên Công Vũ Tam Tỉnh và các thế tổ dòng họ |
Về mặt đóng góp khoa học và thực tiễn, khóa luận:
- Cung cấp bức tranh toàn diện, có hệ thống về mật độ và giá trị kiến trúc, điêu khắc, văn bia của hệ thống di tích trên đảo Hà Nam (32 di tích cấp quốc gia trên tổng số 110 di tích).
- Làm sáng tỏ lịch sử 576 năm quai đê lấn biển của các vị Tiên Công gắn với quá trình hình thành không gian làng xã và các thiết chế văn hóa tín ngưỡng đặc trưng vùng cửa sông Bắc Bộ.
- Đặt nền móng cho việc định hướng xây dựng các sản phẩm du lịch văn hóa nhân văn đặc thù, kết nối đảo Hà Nam vào trục kinh tế - du lịch động lực Hải Phòng – Hà Nam – Hạ Long.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tập trung chủ yếu vào việc khảo sát mô tả di tích vật thể và tổng quan lịch sử, điều kiện tự nhiên - xã hội. Do giới hạn phạm vi nghiên cứu của một khóa luận đại học, đề tài chưa tiến hành khảo sát định lượng sâu về cơ cấu chi tiêu, mức độ hài lòng của du khách thực tế tại điểm đến, cũng như chưa xây dựng đề án kinh doanh chi tiết cho từng tour tuyến du lịch cụ thể.
Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát các giá trị di sản văn hóa phi vật thể chuyên sâu (nghệ thuật diễn xướng dân gian, quy trình các nghề thủ công truyền thống đan lát, đóng thuyền vỏ gỗ), đánh giá sức chứa du lịch của hệ thống di tích và nghiên cứu mô hình phát triển du lịch cộng đồng dựa trên di sản Tiên Công.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên các ngành Du lịch học, Văn hóa học, Quản lý văn hóa, Lịch sử và Việt Nam học khi nghiên cứu về tài nguyên du lịch nhân văn khu vực duyên hải Bắc Bộ.
Đồng thời, công trình cung cấp tư liệu điền dã có giá trị về hệ thống văn bia, kiến trúc đình chùa thời Mạc, Lê, Nguyễn tại đảo Hà Nam cho các cán bộ quản lý di tích, cơ quan quản lý văn hóa - du lịch thị xã Quảng Yên và tỉnh Quảng Ninh trong công tác quy hoạch, lập hồ sơ bảo tồn và xúc tiến du lịch địa phương.
Câu hỏi thường gặp
1. Vùng đất đảo Hà Nam được hình thành từ khi nào và gắn liền với sự kiện lịch sử gì?
Đảo Hà Nam được hình thành từ năm 1434 từ một bãi triều ngập nước cửa sông Bạch Đằng. Sự kiện gắn liền với công cuộc quai đê lấn biển, khai canh lập ấp của 17 vị Tiên Công xuất thân từ phường Kim Hoa (Thăng Long) và 2 vị Tiên Công gốc Trà Lũ, cùng các đợt khai khẩn tiếp theo để lập nên cụm làng xã Phong Lưu, Bản Động.
2. Đảo Hà Nam có bao nhiêu di tích và mật độ xếp hạng ra sao?
Trên toàn đảo Hà Nam có 110 di tích các loại. Trong đó, mật độ di tích được xếp hạng rất cao với 32 di tích cấp Quốc gia và 8 di tích cấp tỉnh, tiêu biểu như Miếu Thập Cửu Tiên Công, Chùa Yên Đông, Đình Lưu Khê, Đình Phong Cốc, Đền Trung Cốc.
3. Hiện vật và giá trị điêu khắc đặc sắc nhất tại Chùa Yên Đông là gì?
Chùa Yên Đông (Pháp Âm Tự) lưu giữ hệ thống tượng Phật thời Mạc thế kỷ XVI, đặc biệt là pho tượng A Di Đà cao 1,4 m ngự trên tòa sen 4 lớp chạm hoa cúc mãn khai, tượng Quan Âm Thiên Thủ 12 tay, cùng văn bia đá Yên Đông tự bi ký dựng năm Hưng Trị thứ ba (1590) và quả chuông đồng đúc năm Minh Mệnh thứ 13 (1832).
4. Hai tấm bia đá thời vua Lê Thánh Tông tại Tiên Công cổ miếu ghi lại nội dung gì?
Hai tấm bia lập ngày 15/3/1495 (năm Hồng Đức thứ 26) ghi lại việc triều đình nhà Lê cử quan khâm sai về vùng đảo Hà Nam để đo đạc ruộng đất, đê lộ và phân chia nhân khẩu, đất đai cho các xã Vị Dương, Lương Quy và Phong Lưu.
5. Đền Trung Cốc thờ những ai và gắn liền với chiến tích lịch sử nào?
Đền Trung Cốc (xã Nam Hòa) thờ Quốc công Tiết chế Trần Hưng Đạo, Điện súy Thượng tướng quân Phạm Ngũ Lão, Đệ nhất/Đệ nhị Vương Cô, Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng, Yết Kiêu và Dã Tượng. Đền được xây dựng ngay trên gò đất mà thuyền của Trần Hưng Đạo và Phạm Ngũ Lão bị mắc cạn khi đi thị sát bãi cọc đồng Vạn Muối chuẩn bị cho trận thủy chiến Bạch Đằng năm 1288.
Kết luận
Khóa luận của sinh viên Trần Thị Nhờ đã hệ thống hóa đầy đủ cơ sở lý luận về tài nguyên du lịch nhân văn và phản ánh chi tiết hiện trạng nguồn tài nguyên nhân văn phong phú, đặc sắc tại khu vực đảo Hà Nam, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh. Công trình làm nổi bật giá trị lịch sử - kiến trúc của hệ thống 110 di tích, các dấu tích chiến thắng Bạch Đằng năm 1288 và truyền thống khai hoang lấn biển của các Tiên Công từ thế kỷ XV. Trên cơ sở đó, khóa luận đề xuất các nhóm giải pháp thiết thực về quy hoạch, bảo tồn di sản và liên kết hạ tầng nhằm khai thác hiệu quả tài nguyên nhân văn phục vụ phát triển kinh tế du lịch bền vững cho địa phương.