mở đầu ngày hội bao giờ cũng mang tính tưởng niệm lịch sử, hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại, một vị anh hùng dân tộc lỗi lạc có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của xã hội. Bên cạnh đó cũng có những lễ hội mà phần lễ thực hiện những nghi lễ tôn kính, dâng hiến lễ vật cho các vị thiên thần, thánh nhân, cầu mong những điều tốt đẹp trong cuộc sống. Nghi lễ trong lễ hội mang ý nghĩa đặc biệt thiêng liêng, nó chứa đựng những giá trị văn hoá truyền thống, giá trị thẩm mỹ và tư duy triết học của cộng đồng. + Phần hội: Trong phần hội thường diễn ra những hoạt động biểu tượng điển hình của tâm lý cộng đồng, văn hoá dân tộc, chứa đựng những quan niệm của dân tộc đó với thực tế lịch sử, xã hội và thiên nhiên.
Trong hội thường tổ chức những trò vui chơi giải trí, biểu diễn văn hoá nghệ thuật. Yếu tố cấu thành và nuôi dưỡng lễ hội là kinh tế - xã hội và tự nhiên nên nội dung của phần hội không chỉ giữ nguyên những giá trị văn hoá truyền thống mà nó luôn có xu hướng bổ sung thêm những thành tố văn hoá mới. Chính đặc điểm này đã tạo cho lễ hội thêm sống động, vui nhộn và phong phú. Tuy nhiên nếu yếu tố này không được chọn lọc và giám sát chặt chẽ cũng như tuyên truyền, giáo dục, đầu tư bảo vệ và phát triển những giá trị văn hoá truyền thống thì sẽ làm cho những giá trị đó bị lai tạp, mai một và suy thoái.
Sinh viên: Trần Thị Nhờ - Lớp VH1001 14 Tìm hiểu các giá trị tài nguyên nhân văn tại khu vực đảo Hà Nam - Yên Hưng - Quảng Ninh Tuỳ vào quy mô và giá trị văn hoá truyền thống còn được bảo tồn, ý nghĩa của lễ hội đối với quốc gia hay địa phương mà các lễ hội được xếp hạng làm lễ hội quốc tế hay lễ hội địa phương. Các lễ hội có sức hấp dẫn cao đối với du khách là đối tượng để triển khai nhiều loại hình du lịch văn hoá, đặc biệt là loại hình du lịch lễ hội. – Thời gian tổ chức lễ hội: Các lễ hội thường được tổ chức nhiều vào sau mùa vụ sản xuất, mùa mà thời tiết, phong cảnh đẹp là mùa xuân và mùa thu. Các giá trị văn hoá lịch sử của lề hội là nguồn tài nguyên du lịch quý giá để tổ chức triển khai các loại hình tham quan, nghiên cứu chuyên đề lễ hội hoặc kết hợp với các loại hình du lịch tham quan, nghiên cứu và mua sắm.
Nghề và làng nghề thủ công truyền thống – Nghề thủ công truyền thống: là những nghề có những bí quyết về công nghệ sản xuất ra các sản phẩm mang những giá trị thẩm mỹ, tư tưởng triết học, tâm tư tình cảm và những ước vọng của con người. Nghề thủ công truyền thống là nghề sản xuất ra nghệ thuật do những nghệ nhân dân gian sáng tạo, gìn giữ và phát triển từ đời này qua đời khác cho những người cùng huyết thông hoặc cùng làng bản. Các sản phẩm thủ công cổ truyền này không chỉ mang những giá trị sử dụng trong cuộc sống hàng ngày mà nó còn chứa đựng bên trong những giá trị về mỹ thuật, giá trị triết học, tâm linh thể hiện tài nghệ, tâm tư, ước vọng của người làm ra chúng. Chính những tính hữu ích và giá trị văn hoá của chúng mà theo dòng chảy của lịch sử, đến nay nhiều nước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đã hình thành và bảo tồn được những giá trị tốt đẹp của tài nguyên này.
– Làng nghề: “ Là những làng có các nghề sản xuất hàng hoá bằng các công cụ thô sơ và sức lao động của con người đã được hình thành một thời gian dài trong lịch sử, nghệ thuật sản xuất hàng hoá được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác ở trong làng. Sản phẩm hàng hoá được sản xuất không chỉ đáp ứng nhu cầu ở trong làng mà còn bán ở thị trường trong nước và quốc tế”. Sinh viên: Trần Thị Nhờ - Lớp VH1001 15 Tìm hiểu các giá trị tài nguyên nhân văn tại khu vực đảo Hà Nam - Yên Hưng - Quảng Ninh d. Văn hoá nghệ thuật Trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia, các nghệ nhân dân gian cùng với nhân dân đã sáng tạo, nuôi dưỡng, bảo tồn những giá trị văn hoá nghệ thuật như những làn điệu dân ca, những điệu múa, bản nhạc,… đây là những giá trị văn hoá, là những món ăn tinh thần của nhân dân, thể hiện những giá trị thẩm mỹ, truyền thống và bản sắc văn hoá, tâm tư, tình cảm và những ước vọng của con người.
Những giá trị văn hoá, đặc biệt là những kiệt tác Di sản Văn hoá phi vật thể và truyền miệng thế giới, không chỉ góp phần tạo ra sự đa dạng vế sản phẩm du lịch mà nó còn có sức hấp dẫn đặc biệt với du khách. Tài nguyên du lịch văn hoá nghệ thuật này vừa mang lại cho du khách sự thư giãn, vui vẻ, nâng cao đời sống tinh thần, làm lãng quên đi bao lo toan vất vả trong cuộc sống thường nhật, nó vừa mang lại sự nhận thức, cảm nhận về cái đẹp, giúp cho du khách có thể tận dụng thời gian rảnh rỗi để thưởng thức những giá trị nhân văn cao đẹp của loại hình nghệ thuật này. Văn hoá ẩm thực Từ xa xưa, ăn uống đã trở thành nhu cầu thiết yếu không thể thiếu của mỗi con người. Ngày nay khi nói đến nghệ thuật ẩm thực, chúng ta không chỉ nghĩ đến nhu cầu ăn no, ăn đủ chất mà còn nói đến cái đẹp, nghệ thuật chế biến món ăn, không gian, thời gian và cách thức ăn uống của mỗi người, mỗi tầng lớp trong xã hội.
Chính những quan niệm và những nhu cầu đó đã biến văn hoá ẩm thực thành một loại hình văn hoá nghệ thuật không thể thiếu đối với sự phát triển của xã hội ngày nay. Mỗi một đất nước, một quốc gia, tuỳ vào điều kiện tự nhiên, đặc điểm lịch sử và sự phát triển kinh tế xã hội đã hình thành nên những món ăn, đồ uống mang tính đặc sản riêng. Nghệ thuật ẩm thực không chỉ là văn hoá mỗi quốc gia, mà nó còn là dấu ấn, sự nhận thức về giá trị nghệ thuật của du khách đối với quốc gia đó. Sinh viên: Trần Thị Nhờ - Lớp VH1001 16 Tìm hiểu các giá trị tài nguyên nhân văn tại khu vực đảo Hà Nam - Yên Hưng - Quảng Ninh f.
Thơ ca và văn học Thơ ca và văn học là loại hình nghệ thuật trong đó có sử dụng ngôn từ để phản ánh cái đẹp, tình yêu của con người với thiên nhiên, của con người với nhau, với quê hương, đất nước và đời sống xã hội - sản xuất của con người. Lịch sử phát triển văn học của mỗi quốc gia gắn liền với lịch sử hình thành dựng nước, giữ nước và xây dựng đất nước của mỗi dân tộc. Tuỳ vào sự đa dạng, phong phú của điều kiện tự nhiên và sự phát triển lâu đời của dòng chảy lịch sử đã hình thành nên những nền văn minh, văn hoá lớn với những tác phẩm thơ ca, văn học nổi tiếng tồn tại và sống mãi với sự trường tồn của nhân loại. Văn hoá ứng xử và những phong tục tập quán tốt đẹp Văn hoá ứng xử và những phong tục, tập quán là những sản phẩm hàng hoá đặc biệt không thể đo lường bằng các thiết bị kỹ thuật một cách chính xác mà nó phải được đánh giá dựa trên tiêu chí xếp hạng và sự cảm nhận qua các giác quan, tình cảm và sở thích của du khách.
Do vậy, văn hoá ứng xử, phong tục tập quán sinh sống của mỗi địa phương, quốc gia, dân tộc đã trở thành tài nguyên du lịch vô cùng quý giá, tạo nên môi trường tự nhiên, môi trường xã hội tốt đẹp, đồng thời tạo tạo ra những sản phẩm du lịch đặc biệt hấp dẫn du khách. Tài nguyên du lịch gắn với văn hoá các tộc người Tài nguyên du lịch gắn với văn hoá các tộc người bao gồm điều kiện sinh sống, phương thức sản xuất, kiến trúc, trang trí nhà ở, nghề thủ công truyền thống, văn hoá nghệ thuật, văn hoá ẩm thực, lễ hội, phong tục, tập quán với những sắc thái riêng trên những địa bàn sinh sống của họ. Việt nam là một quốc gia đa sắc tộc, có 54 dân tộc, trong đó có tới 53 tộc người thiểu số sống chủ yếu ở các vùng miền núi, cao nguyên, đồng bằng Sông Cửu Long và đồng bằng duyên hải Nam Trung Bộ. Chính yếu tố này đã tạo nên những giá trị văn hoá truyền thống đặc sắc, có sức hấp dẫn lớn đối với du khách trong và ngoài nước.
Sinh viên: Trần Thị Nhờ - Lớp VH1001 17 Tìm hiểu các giá trị tài nguyên nhân văn tại khu vực đảo Hà Nam - Yên Hưng - Quảng Ninh i. Các hoạt động mang tính sự kiện Các hoạt động mang tính sự kiện như liên hoan phim, ảnh, ca nhạc quốc tế, các giải thể thao lớn,…do địa phương hoặc quốc gia tổ chức. Đây đều là những đối tượng có sức hấp dẫn lớn với du khách và là điều kiên, tài nguyên quan trọng để phát triển loại hình du lịch MICE. Vai trò của tài nguyên nhân văn đối với phát triển du lịch Trong ngành công nghiệp du lịch, tài nguyên du lịch chiếm vị trí đặc biệt quan trọng, nó chính là nhân tố hàng đầu quyết định đến hiệu quả của ngành kinh tế này.
Ngày nay, nhu cầu văn hoá của con người, của tập thể người chính là động lực thúc đẩy người ta đi du lịch, bởi lẽ người ta đi du lịch không chỉ đơn thuần để vui chơi, giải trí mà còn hướng đến mục đích cao hơn. Đó là sự hiểu biết, học hỏi, nghiên cứu. Theo cấp bậc nhu cầu của Maslow, nhu cầu hiểu biết chính là nhu cầu lớn nhất của con người, khi người ta đã thoả mãn những nhu cầu chủ yếu như: ăn, ở, nghỉ ngơi, vui chơi,nghỉ dưỡng,…thì họ còn hướng đến những giá trị tinh thần, giá trị nhân văn của nhân loại. Họ muốn hoàn thiện bản thân và cân bằng lại nhân cách của mình.
Tài nguyên du lịch nhân văn đã đáp ứng được nhu cầu cao nhất của con người. Sự khác biệt giữa các quốc gia, vùng, miền, chính là nguyên nhân làm xuất hiện những dòng khách du lịch từ nơi này đến nơi khác, từ nước này đến nước khác.