CHƯƠNG 1 TONG QUAN VE CỘNG DONG NGƯỜI HOA TAI THANH PHO HO CHi MINH 1. Tổng quan về cộng đồng người Hoa tại Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng 1. Tổng quan về cộng đồng người Hoa tại Đông Nam Á Trải qua nhiều thập kỷ, lịch sử đã chứng kiến nhiều đợt di cư của người Hoa’ đến các khu vực trên thé giới, trong đó phan lớn tập trung vào các nước Đông Nam Á, hình thành nên cộng đồng người Hoa én định, vững chắc, hòa nhập với đời sông các nước sở tại. Lịch sử hình thành cộng đồng người Hoa ở Đông Nam Á đã trải qua hàng thế kỷ, đó là một quá trình vận động và biến đổi thân phận của họ: Từ thân phận Kiều dân trong những ngày đầu mới nhập cư cho đến trước khi khu vực Đông Nam Á thoát khỏi ách thống trị của thực dân Phương Tây, chuyển dần sang địa vị công dân sau khi các quôc gia này giành được nên độc lập.
Người Hoa di cư đến khu vực Đông Nam Á từ rất sớm và kéo dài trong nhiều thế kỷ. Có nhiều nguyên nhân dẫn tới sự di cư của người Hoa tới khu vực này, nhưng nguyên nhân chính là do sự tác động trực tiếp của các cuộc nội chiến trién miên trong thời kỳ lịch sử Cổ - Trung Đại của Trung Quốc (đã làm cho cuộc sống của người dân luôn ở trong tình trạng nghèo đói, bệnh tật. Bên cạnh đó, Đông Nam A được mệnh danh là “mién đất hứa” với điều kiện thiên nhiên trù phú, cơ hội kiếm sống thuận lợi đã từng cưu mang nhiều thế hệ người Hoa trong lịch sử. Chính những điều đó đã tạo ra động lực ! Trong lịch sử chưa bao giờ tồn tại một cộng đồng người Hoa đồng nhất về chủng tộc, xã hội, chính trị.
Chính vì vậy, chưa có thuật ngữ chung để chỉ tất cả về họ. Dựa vào đối tượng, phạm vi nghiên cứu, dé tài sử dụng khái niệm người Hoa (Hua ren / Chinese overseas / Ethnic Chinese) dựa trên 5 tiêu chí: - Có nguồn gôc Hán hoặc đã bị Hán hóa - Sốngỗn định và thường xuyên ngoài lãnh thổ Trung Hoa - _ Đã nhập quốc tịch va trở thành công dân của nước sở tại - Van còn bảo lưu được các yếu tổ Trung Hoa truyền thông - Van tự nhận mình là người Hoa ple Eee ae a ee aa cuốn hút nhiều thế hệ người Hoa định cư tiếp theo. Nhưng dù bằng con đường nào, nguyên nhân nào, hình thức nào, khi tới nơi cư trú mới, họ cũng xây dựng - cho mình một cộng đồng vững mạnh với nhiều hình thức liên kết (đồng hương, đồng tộc.) nhằm ổn định cuộc sống, phát triển kinh tế và lưu giữ những giá trị văn hóa truyên thông của cha ông. Hiện nay, cộng đồng người Hoa tại khu vực Đông Nam Á có khoảng 30 triệu người, chiêm tới 70% số người Hoa sinh sông trên thể giới và khoảng 6% dân sô của các nước Đông Nam Á.
Bảng 1: Dân số người Hoa trong cơ cau dân cư các nước Đông Nam A (năm 2007) [ r — 2 r Quoc gia Tông sô dan (Triệu người) Người Hoa (Người) rn Brunei 300.185 8 Do gần gũi về địa lý, lối sống, văn hóa, nhân chủng, cấu trúc kinh tế. nên từ lâu đã xuất hiện các quan thé dân cư người Hoa di trú tại Đông Nam A. Hạt nhân chính cho sự hình thành này là tầng lớp nhà buôn, thợ thủ công và tiêu thương. Hoạt động kinh doanh của họ không chỉ đóng vai trò tích lũy vốn mà còn kích thích dòng nhập cư mới.
Do thiết lập được hệ thống các làng, phố của mình tại các trung tâm buôn bán, hải cảng chính của các nước trong khu vực nên người Hoa trong thế kỷ XV - XVI đã thay thế người An Độ, A Rap và chiếm vị trí chủ đạo trong nền ngoại thương Đông Nam Á. Cùng với việc khởi sắc buôn bán trên biển của người Nhật, Java, thương mại nhộn nhip của người Hoa ở thời kỳ đó đã tạo nên “Hệ thống mậu dịch Châu Á” hay “Kỷ nguyên vàng mậu dịch Châu Á” [6, 24]. Từ khi thực dân phương Tây xâm nhập và cai trị khu vực Đông Nam Á, người Hoa trở thành lực lượng chính, đảm nhận chức năng môi giới, trao đổi hàng hóa giữa phương Tây với thị trường nội địa Đông Nam Á. Cùng với tư bản phương Tây, tầng lớp nhà buôn người Hoa đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành “Con đường tơ lụa” trên biển, nối liền Châu A với Âu - Mỹ, làm phong phú đa dạng thêm nguồn cung cấp vốn, thị trường lao động và chủ nghĩa tư bản dạng thuộc địa ở khu vực này.
Dưới tác động của thực tiễn thuộc KuNQANNNNNNAAHg,. địa, tầng lớp nhà buôn, thương gia người Hoa dần dần chiếm lĩnh nhiều lĩnh vực, ngành kinh tế trọng yếu của nhiều nước Đông Nam Á (nhất là các nước Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan, Campuchia, Việt Nam.) như buôn bán, xay xát lúa gạo, kinh doanh tạp hóa, tín dụng nông nghiệp. Điều này cho phép họ tích lũy vốn nhanh dé mở rộng dau tư sang các lĩnh vực khác đòi hỏi nhiều vốn và kiến thức cao hơn như tài chính, công nghiệp chế biến — chế tạo. Khoảng 10 — 15 năm sau Chiến tranh Thế giới thứ II, hầu hết các nước Đông Nam Á đã giành được độc lập, đồng loạt thi hành chính sách bản địa hóa tư bản nước ngoài bằng biện pháp hạn chế hay phân biệt đối xử, trong đó có tư bản Hoa Kiều.
Do nhiều hậu quả xấu mang lại: kinh tế trì trệ, mâu thuẫn và xung đột sắc tộc, các nhóm lợi ích cộng đồng xã hội tăng lên. làm cho chính phủ các nước này từ nửa sau những năm 60 của thế kỷ XX buộc phải điều chỉnh chính sách bằng việc khuyến khích đầu tư tư nhân trong và ngoài nước (trong đó có doanh nghiệp người Hoa va Hoa Kiều). Sự chuyển hướng này tạo ra bước phát triển mới tại các nước Đông Nam Á, làm tăng nhanh ngu6n vốn nội địa, thúc đây hợp tác đa dân tộc, đa sở hữu giữa tư bản tư nhân với nhà nước, giữa các nước trong khu vực với các công ty xuyên quốc gia Âu - Mỹ, Nhật Bản. Đối với tư bản người Hoa, sự thay đổi chính sách này làm đa dạng hóa lĩnh vực đầu tư, tạo đà cho sự ra đời của các tổ hợp, tập đoàn công ty xuyên quốc gia của người Hoa tại Đông Nam Á trong những thập niên 80 - 90.
Theo thống kê năm 1983, vốn kinh doanh của người Hoa tại Đông Nam Á ước tính khoảng 65 tỉ USD. Tới nay, con số này đã được nhân lên gấp bội. Người Hoa được đánh giá là một thế lực kinh tế hùng mạnh tại Đông Nam Á. Đồng thời, họ nắm vai trò chủ đạo, chi phối mạnh mẽ đối với nền kinh tế của một sô quôc gia trong khu vực.
Tại Indonesia, người Hoa chiếm 2,5% trong số 200 triệu dân, nhưng lại kiểm soát tới trên 70% kinh tế nước này. Trong đó, kiểm soát trên 75% ngành sản xuât bánh mì, miên; kiêm soát 80% ngành may mặc; 65% ngành nhuộm và 80% ngành lâm sản. Cuối năm 1993, 68% doanh nghiệp quy mô lớn của - Indonesia do người Hoa kiểm soát [34, 13]. Người Hoa ở Thái Lan chiếm 10% dân số nhưng chiếm trên 90% vốn của các doanh nghiệp và trên 50% vốn của ngành ngân hàng.
Những ngân hàng quy mô lớn của người Hoa ở Thái Lan như Ngân hàng Thái Kinh có vốn tới 6,9 tỉ USD, Ngân hàng Nông Dân Thái Hoa trên 6,7 tỉ USD, Ngân hàng Điện Tín Châu Á khoảng 5 tỉ USD, Ngân hàng BangKok 6,2 tỉ USD, Ngân hàng Hoa Thái 6,7 tỉ USD, Ngân hàng Thương Mại Viễn La 4,6 tỉ USD. Ngân hàng và công ty tài chính của người Hoa ở Thái Lan có tài sản tới trên 22,2 tỉ USD lớn hơn tài sản 21,8 tỉ USD của Chính phủ và Hoàng gia Thái Lan cộng lại. Chính vì vậy mà địa vị người Hoa ở Thái Lan rất cao. Người gốc Hoa cũng chiếm một tỉ lệ đáng kể trong Chính phủ Thái Lan [34, 15].
Tại Philippines người Hoa chiếm chưa đầy 2% dân số nhưng chiếm trên 35% kim ngạch thương mại của nước này, đồng thời kiểm soát gần hết những huyết mạch kinh tế của Philippines. Vì vậy, người Hoa có địa vị và quyền lợi rất lớn trên chính trường cũng như trong kinh doanh, giáo dục [34, 18]. Tại Singapore, người Hoa chiêm tới 80% dân sô. Họ kiêm soát tat cả các mặt của đất nước, từ chính quyền nhà nước tới các doanh nghiệp [34, 20].
Di đôi với sự lớn mạnh của các doanh nghiệp người Hoa là sự ra đời của các tập đoàn, công ty lớn xuyên quốc gia như tập đoàn họ Lâm tại Indonesia, họ Quách tại Malaysia, họ Trần ở Thái Lan. Đó là minh chứng rõ nét nhất cho sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của doanh nghiệp người Hoa tại Đông Nam Á. Những tập đoàn, công ty này đang điều hành, chỉ phối một số ngành kinh tế then chốt của nhiều nước Đông Nam Á, nhất là trong lĩnh vực tài chính. Đây được coi là nhân tố tích cực, thúc đây nhanh quá trình liên kết và tập trung hóa từng lĩnh vực, ngành, quốc gia, khu vực và quốc té, tạo thuận lợi cho chuyền giao công nghệ, đào tạo các nhà quản lý và công nhân lành nghề ——Te=: cho công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa nên kinh tê các nước Đông Nam A.
Tuy nhiên, hoạt động kinh té của cộng đồng người Hoa cũng tiêm an nhiêu nguy cơ đôi với nên kinh tê các nước. Tông quan về cộng đông người Hoa tại Việt Nam So với các nước trong khu vực và trên thế giới, quá trình hình thành, phát triên, lưu giữ các yêu tô truyén thông: văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng, quan hệ : xã hội. của cộng đông người Hoa ở Việt Nam có nhiêu nét tương đồng với các cộng đồng người Hoa tại khu vực Đông Nam Á. Ở Việt Nam hiện có 823.071 người Hoa sinh sống [2, 131], phần lớn tập trung ở Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Nam Bộ.
Người Hoa ở Việt Nam trong các văn kiện Đảng và nhà nước Việt Nam, đó là “Là những người gốc Hán và những người thuộc dan tộc it người ở Trung Quốc đã Hán hóa di cư sang Việt Nam và con cháu của họ sinh ra, lớn lên tại Việt Nam, nhập quốc tịch Việt Nam, nhưng vẫn còn giữ những đặc trưng văn hóa, chủ yếu là ngôn ngữ, phong tục tập quán của dân tộc Hán và tự nhận minh là người Hoa” [1, 77]. Trong văn kiện này cũng lưu ý về “Hoa Kiểu là những người có cùng nguồn gốc với người Hoa, nhưng không nhập quốc tịch Việt Nam”.