Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Thuật ngữ “Hát Dậm”, “Hát Dặm” Hát Dậm hay còn gọi là hát Dặm là thể loại dân ca nghi lễ hình thành và phát triển trên mảnh đất quê hương làng Quyển Sơn, xã Thi Sơn, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Cùng một đối tượng, nhưng lại có có khi được gọi là “hát Dậm”, lại có lúc gọi là “hát Dặm”. Ý kiến của tác giả Trọng Văn cho rằng người dân quê ông, dù phát âm là “hát Dậm” hay “hát Dặm” cũng đều có chung một nghĩa, tựa như “dạy học” với “dậy học”.
[85; tr 39] Cũng có ý kiến khác cho rằng có tên hát Dậm bởi trong các chặng hát của hát Dậm có sử dụng động tác dậm chân để đẩy mái chèo, làm nhịp trong hát Dậm. Động tác này xuất hiện với tần xuất nhiều khoảng gần một nửa trong các làn điệu hát Dậm. Nguồn gốc của động tác này có lẽ được bắt nguồn từ dòng sông Đáy, con sông mà Lý Thường Kiệt cùng với đại quân nhà Lý bằng đường thủy ra cửa biển để đi đánh quân Chiêm Thành. Đồng thời dòng sông Đáy với nguồn nước vô cùng lớn chính là điều kiện để giúp nhân dân nơi đây sản xuất, tạo ra của cải vật chất và cũng là thủ phạm gây nên tình trạng dân cư ở nơi đây “6 tháng đi bằng chân, 6 tháng đi bằng tay”, họ phải thường xuyên chèo thuyền để đi lại, đánh bắt cá, tôm.
có thể người dân địa phương đã đặt tên theo cách đó. Trong khi thực hiện đề tài này, chúng tôi thống nhất gọi tên là “hát Dậm” LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Khái niệm về dân ca Tìm hiểu về khái niệm dân ca đã có nhiều khái niệm: Các từ phong dao, ca dao có mặt trong các sách Hán Nôm từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX. Nếu định nghĩa theo từ nguyên thì ca là bài hát có chương khúc hoặc có âm nhạc kèm theo còn dao là bài hát ngắn không có chương khúc.
Như vậy, xét về bản chất thì ca dao và dân ca hầu như không có danh giới rõ rệt. Song sau này trên thực tế, thuật ngữ ca dao có nội dung hẹp hơn thuật ngữ dân ca hật khó khi muốn tìm một định nghĩa thỏa đáng về dân ca. Phạm vi phản ánh của hai từ ca dao và phong dao có chỗ giống nhau. Người xưa gọi “Ca dao là phong dao vì có những bài ca dao phản ánh phong tục của mỗi địa phương, mỗi thời đại.
Vì vậy dần dần tên gọi phong dao ít được sử dụng, nhường cho từ ca dao. Cho đến những đầu năm 50 của thế kỷ XX, từ phong dao hầu như không còn được sử dụng, chỉ còn từ ca dao được dùng để chỉ một loại thơ dân gian. Ở Việt Nam, so với các từ ca dao, thuật ngữ dân ca xuất hiện muộn hơn. Phải đến năm 1956, với cuốn sách Tục ngữ và dân ca Việt Nam của Vũ Ngọc Phan, từ dân ca mới trở nên quen thuộc.
Các nhà nghiên cứ văn học dân gian hiện nay cho rằng dân ca bao gồm phần lời (câu hoặc bài) phần giai điệu (giọng hoặc làn điệu), phương thức diễn xướng và cả môi trường, khung cảnh ca hát. Khi nói đến dân ca người ta nghĩ đến cả làn điệu và những thể thức hát nhất định. Như vậy, không có nghĩa là toàn bộ hệ thống những câu hát của một loại dân ca nào đó (hát Xoan, hát Quan Họ, hát ví.) cứ tước bỏ tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi thì đều là ca dao. Ca dao được hình thành từ dân ca.
Khi nói tới ca dao người ta thường nghĩ đến lời ca. Giữa ca dao và dân ca có mối quan hệ gắn bó. Thuật ngữ kép ca dao – dân ca đã được sử dụng để phản ánh mối quan hệ đặc biệt có những điểm tương đồng trong diễn xướng (có thể hát, ngâm theo các làn điệu). Khi được ghi chép, dân ca, ca dao đều được ngắt ra thành câu (hai dòng thơ) thành bài ca dao – dân ca (với nhiều dòng).
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Kính, thuật ngữ lời ca dao được hiểu theo nghĩa là một cơ cấu nghệ thuật hoàn chỉnh có mặt nội dung và hình thức văn học. Nội dung của lời diễn đạt một tình cảm, thông báo một vấn đề, một điều cụ thể. Hình thức của lời ca bao gồm ngôn ngữ, nhịp điệu, thể thơ. Theo các soạn giả bộ sách Kho tàng ca dao người việt, thuật ngữ ca dao được hiểu theo ba nghĩa rộng, hẹp khác nhau: Thứ nhất: Ca dao là danh từ ghép chỉ chung toàn bộ những bài hát lưu hành phổ biến trong dân gian có hoặc không có khúc điệu, trong trường hợp này ca dao đồng nghĩa với dân ca.
Thứ hai: Ca dao là danh từ chỉ thành phần ngôn từ (phần lời ca) của dân ca (không kể những tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi) Thứ ba: không phải toàn bộ những câu hát của một loại dân ca nào đó tước bỏ tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi. thì sẽ đều là ca dao. Theo Từ điển thuật ngữ văn học của Trần Đình Sử, đã đồng nhất khái niệm ca dao với dân ca. Theo nghĩa gốc, ca là bài hát có khúc điệu, dao là bài hát không có khúc điệu.
Cao dao là danh từ ghép chỉ toàn bộ những bài hát lưu hành phổ biến trong dân gian có hoặc không có khúc điệu. Ở luận văn này chúng tôi sử dụng theo cách hiểu ở Từ điển thuật văn học nghĩa là đồng nhất khái niện ca dao với dân ca. Khái niệm “Dân ca nghi lễ” Dân ca nghi lễ gắn bó chặt chẽ với sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, gắn chặt với phong tục tập quán của từng vùng nên người ta thường gọi là dân ca nghi lễ - phong tục. Có thể thấy trong dân ca nghi lễ này hai mảng chính: dân ca nghi lễ trong sinh hoạt cộng đồng và dân ca nghi lễ trong sinh hoạt gia đình.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 15 Dân ca nghi lễ trong sinh hoạt cộng đồng là những bài ca khẩn nguyện gắn với lao động sản xuất. Đây là những bài ca cổ nhất thể hiện lòng tin của con người vào những lực lượng siêu nhân và cầu mong trời đất, thánh thần phù hộ con người trong lao động và cuộc sống. Loại dân ca nghi lễ gắn với việc cúng tế thần thánh (hát tế thần) như hát Xoan Phú Thọ, hát Ải lao ở Đông Anh Hà Nội, hát Dô ở Hà Tây (nay Hà Nội), hát Dậm ở Hà Nam, hát Chèo chải ở Thanh Hóa, hát Chầu văn ở Nam Định. Hát Dậm Hà Nam, hát Chẻo chài ở Thanh Hóa.
Hát Dậm Hà Nam là loại dân ca nghi lễ tưởng niệm người anh hùng dân tộc Lí Thường Kiệt, khi hát có kèm theo múa. Về nhạc cụ có một cái sênh do bà Trùm gõ làm nhịp. Từ mùng mười tháng giêng đến mùng mười tháng hai âm lịch, bao nhiêu con gái tân trong làng phải ra đình học hát. Từ mùng một đến mùng sáu tháng hai, họ phải luôn ở ngoài đình.
Trong khi quan viên tế thần, họ phải xen kẽ với quan viên hành lễ, đi lên đi xuống vừa múa vừa hát như múa bài bông, buổi tối phải ở ngoài đình để hát. Các cô gái hát Dậm và bà Trùm phải mặc quần áo đẹp. Những bài ca nghi lễ trong sinh hoạt gia đình là những bài ca gắn với các mốc quan trọng trong cuộc đời mỗi con người: ngày sinh, ngày cưới, ngày khao thọ, ngày làm nhà mới, gia đình có tang ma. Ở miền Trung có hò bả trạo (hò đưa linh) mô phỏng động tác chèo đò (theo quan niệm xưa ngăn cách cõi dương và cõi âm là một con sông) [31; tr166] 1.
Quan niệm về diễn xướng folklore Diễn xướng là thuật ngữ được dùng khá quen thuộc trong nghiên cứu văn học nghệ thuật và đặc biệt là trong nghiên cứu văn học, văn hóa dân gian. Song trong quá trình nhận diện, nhiều vấn đề liên quan đến thuật ngữ này còn chưa thật sự thống nhất. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 16 Tác giả Lê Trung Vũ trong bài viết Từ diễn xướng truyền thống đến nghệ thuật sân khấu đã xác định: “Diễn xướng vừa là hình thức sinh hoạt văn hóa xã hội định kỳ (như Hội Gióng, Hội Xoan, Hội chùa Keo.) quy mô làng xã; lại vừa là hình thái sinh hoạt văn hóa xã hội không định kỳ, nhưng định lệ (lễ làm nhà mới, đám cưới, đám tang, lễ thành niên, lễ thượng thọ.) quy mô một gia đình hoặc việc của một người; lại cũng vừa là lối trình diễn rất tự nhiên không định kỳ cũng không định lệ mà do nhu cầu sinh hoạt, lao động (Ru con, hát trong lúc lao động, vì lao động hoặc để giải trí”. Theo tác giả, có thể phân loại diễn xướng dựa vào chủ đề và quy cách.
Dựa vào chủ đề, diễn xướng được chia thành hai loại theo hai nội dung lớn của xã hội là dựng nước và giữ nước. Diễn xướng theo chủ đề dựng nước lại có thể chia thành hai loại nhỏ là sản xuất và sinh hoạt. Dựa vào quy cách tiến hành diễn xướng, có thể chia diễn xướng thành diễn xướng tự nhiên, tự do (thường là hát không động tác hoặc động tác đơn giản, không kèm tập tục, nghi lễ) và diễn xướng định kỳ, định lệ (phức tạp về thành phần cấu tạo, đa dạng về nội dung, theo quy cách nhất định). Tác giả Lê Trung Vũ còn lưu ý rằng đã gọi là diễn xướng thì thường phải có diễn (múa, động tác, âm nhạc) và xướng (nói, ngâm ngợi, ca hát).
Tìm hiểu về diễn xướng tác giả Nguyễn Hữu Thu quan niệm: “Thuật ngữ diễn xướng là để chỉ chung việc thể hiện, trình bày những sáng tác văn nghệ của con người gồm nhiều yếu tố hợp thành (.) diễn xướng là thể thức sinh hoạt văn nghệ mang tính chất nguyên hợp của loài người từ lúc sơ khai cho đến thời đại văn minh hiện nay”. Nguyễn Hữu Thu liệt kê ra 13 yếu tố cấu thành diễn xướng như: con người (xét về mặt sáng tạo), tác phẩm (tiểu phẩm truyền miệng trong dân gian), địa điểm (các kiểu diễn trường), thời gian (mùa hay dịp), động tác (đi đứng, cử chỉ, nhảy múa), ngôn ngữ (nói LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 17 năng, ngâm, bình, xướng, kể). và nhấn mạnh vào yếu tố con người – xuất phát điển của nghệ thuật biểu diễn.