Chương 1. BƯỚC ĐƯỜNG SÁNG TẠO NGHỆ THUẬT CỦA YẾN LAN Cuộc đời lao động nghệ thuật của mỗi nhà văn nhà thơ hầu như đều gắn liền với xã hội, với những biến động của thời cuộc mà mình trải qua. Nếu không bị động mà bị cuốn theo những biến động thì ít hay nhiều bối cảnh sống của xã hội cũng để lại những dấu ấn trong các tác phẩm của họ, Yến Lan cũng không phải là ngoại lệ. Cuộc đời lao động nghệ thuật của ông trải dài gần ngót thế kỷ, đi qua những biến cố thăng trầm suốt mấy mươi năm của dân tộc, lần giở những trang thơ của ông ta như đang đọc những trang đời trước những biến thiên lịch sử của dân tộc.
Những tác phẩm của ông gần như cầm tay nhau bước vào đời, nó phản ánh về cuộc sống xã hội, về cuộc đời về tâm tư tình cảm của ông, của con người nói chung, đó là thành quả lao động không mệt mỏi suốt cuộc đời ông. Đọc Yến Lan ta bắt gặp một sự vận động của cái tôi trữ tình tuy tích cực nhưng luôn ẩn chứa một sự trầm tư đến bình đạm trước cuộc sống mà nói như Nguyễn Thanh Mừng đó là sự: “trầm lặng và tinh nhã cả trong văn chương lẫn cuộc đời”. Trước cách mạng tháng Tám - với Bàn thành tứ hữu 1.1 Khi Yến Lan làm thơ, phong trào Thơ mới đã bắt đầu được vài năm. Công chúng yêu thơ đương vồ vập tiếp nhận “những bài thơ mô tả những sóng gió ái tình và khao khát yêu đương” [11,tr.11] bởi đây là đề tài phải kiêng dè, và bị cấm đoán suốt hàng ngàn năm, giờ đây Thơ Mới đang bứt tung mọi xiềng xích để mọi cung bậc của ái tình được đường hoàng lên tiếng, phơi mình ra trước nhân gian.
Những vần thơ tình yêu cháy bỏng đang làm háo hức bao tâm hồn thanh niên ngày ấy, nó bộc lộ những gì mà họ không thể nói, không dám nói: Đôi hơi thở tìm nhau trong bóng tối Đôi linh hồn chìm đắm bể u sầu. (Đêm tàn – Chế Lan Viên ) Hay Bữa nay lạnh, mặt trời đi ngủ sớm Anh nhớ em, em hỡi! Anh nhớ em… Anh nhớ tiếng. Anh nhớ hình. Anh nhớ ảnh Anh nhớ em, anh nhớ lắm! Em ơi! (Tương tư chiều – Xuân Diệu ) Vậy mà trong thơ Yến Lan, những vần thơ yêu đương đôi lứa lại rất ít.
Phải chăng chàng không yêu? Hoàn toàn không phải vậy, bởi là con người nói chung và thi nhân nói riêng thì tình yêu đôi lứa là một phần không thể thiếu trong cuộc sống và đặc biệt là trong việc nuôi dưỡng nguồn cảm hứng cho thi nhân. Yến Lan cũng viết về thơ tình, nhưng ta bắt gặp một thứ tình cảm thật nhẹ nhàng Vì với tình tôi, phải nhẹ nhàng Phải là ý ngọc, phải tim vàng Phải là trọn vẹn, là trong sámg Là một bài thơ khắc chữ " chàng" (Đồng nội hồn tôi) Sự xa cách nhớ nhung ta hoàn toàn không thấy chàng rên rỉ hay gào thét cho tung hê trời đất, mà là sự lắng đọng trong tâm: Em đi, ngày tháng biệt mùi tăm Kén đã luân sinh mấy kiếp tằm Một mảnh hồn ta còn đọng mãi Trên vành nong úa sắc thời gian. (Mùa xuân này lạnh lắm em ơi) Tình yêu tan vỡ bởi sang hèn ngăn cách, ta đã bắt gặp nhiều những cung bậc về sự oán hận, căm ghét số phận, đớn đau vật vã đến đày đọa bản thân, làm hao tốn bao nhiêu giấy mực của các thi nhân, lấy bao nước mắt của đôc giả. Nhưng với Yến Lan, ta không bắt gặp những sự oán than cay nghiệt đó mà vẫn chỉ là sự lặng thầm ray rứt với bản thân: Giận cái ngây thơ tự lúc đầu Thấy rằng tường giậu chẳng ngăn nhau Ai hay rẽ thúy chia uyên ấy Còn bức thành cao giữa khó giàu (Gần nhà xa ngõ) 1.
Không vồ vập ca ngợi ái tình, không bị cuốn theo làn sóng thơ tình ái mà thơ Yến Lan giai đoạn này, hay nói cho chính xác là khuynh hướng thơ của Yến Lan ngay từ thuở ban đầu cầm bút chính là lấy cuộc sống của mình, lấy cảnh sắc quê hương làm đề tài trong các sáng tác. Tác phẩm đầu tiên đưa Yến Lan đến với công chúng chính là bắt nguồn từ hoàn cảnh đặc biệt của bản thân. Từ tiếng gọi đò của cậu bé mỗi ngày khi mang thức ăn cho mẹ đang bị ốm ở bên kia sông, cho đến tiếng gọi đò thê thiết trong đêm đi báo tin mẹ qua đời. Tiếng gọi đò ấy dội vào tâm trí tuổi thơ, đi suốt cả cuộc đời của thi sĩ như một nối niềm khắc khoải, đớn đau, oán trách.
Để rồi tiếng gọi đò ấy đi vào thi phẩm làm run rẩy bao tâm hồn, níu lòng người lại để đi tìm Bến My Lăng Tiếng gọi đò, gọi đò như oán trách Gọi đò - thôi, run rẩy cả ngành trăng… (Bến My Lăng) Ngày xưa, khi Tú Xương “vẳng nghe tiếng ếch bên tai” thì bỗng “giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò”, đó là sự tưởng nhớ về những kỉ niệm êm đẹp của cuộc sống miền thôn quê, tiếng gọi đò của khách sang sông khi dòng sông chưa bị lấp, đồng quê chưa bị đô thị hóa, tiếng gọi trong tiềm thức đó là một sự tiếc nhớ. Còn trong văn học giai đoạn 30 -45 này có hai bài thơ cùng chứa đựng những tiếng kêu não nùng trong đêm vắng. Độc giả yêu thơ có lẽ không quên những âm thanh não nùng của hàng trăm con quạ giật mình kêu hoảng loạn trong bóng đêm qua bài thơ Đêm thu nghe quạ kêu của Quách Tấn. Từ Ô Y Hạng rủ rê sang, Bóng lẫn đêm thâu tiếng rộn ràng… Trời bến Phong Kiều sương thấp thoáng Thu sông Xích Bích nguyệt mơ màng Bồn chồn thương kẻ nương sòng bạc.
Lạnh lẽo sầu ai rụng giếng vàng. Tiếng dội lưng mây đồng vọng mãi Tình hoang mang gợi tứ hoang mang… Tiếng của một đàn quạ kêu rộn lên ở những bờ tre cạnh sông Côn nằm trên chặng đường từ An Vịnh về Phú Phong đã gây cho Quách Tấn một ấn tượng mạnh mẽ, suốt đời ông vẫn nhớ, nó khiến ông viết hẳn một bài thơ Đường nổi tiếng mà nhiều người phải bàn đến. Giữa đêm khuya, tiếng đàn quạ kêu thật ấn tượng, tiếng kêu ấy thật não nùng trong làng Thơ mới ngày ấy. Thế nhưng cái âm thanh trong bóng đêm ấy so với tiếng gọi đò làm “run rẩy cả ngành trăng” kia thì có lẽ tiếng gọi đò ngày ấy nó không chỉ ám ảnh suốt phần đời của tác giả mà nó cũng làm khắc khoải bao lớp người yêu thơ.
Nó đưa Yến Lan bước lên thi đàn của dân tộc, đóng dấu khai sinh tên gọi cho một miền sông nước bằng Bến My Lăng. Một tuổi thơ sớm chịu mồ côi đến hoàn cảnh sống đặc biệt của bản thân mình cũng được Yến Lan bộc bạch : Đây tôi sống trong xanh nghiêm thánh thất Đèn lưu ly hao sáng mộng tràn đầy Lan can đỏ xuống dần từng bậc bậc Hồn cuộn dần bậc bậc khói hương xây Hồn tôi loảng trên bệ vàng thếp chảy, Cùng hồn trưa quấn quýt lấy giao lân. Tám phương bạn – chợp hàng mi – mộng thấy Xứ tâm tình, vàng rộn lá thu phân. (Bình Định 1935) Mẹ mất sớm, nhà nghèo, cha làm thủ từ ở Chùa Ông, gia đình cũng phải nương nhờ nơi mái chùa ấy.
Tuổi thơ gắn liền với việc hương khói của cha nơi điện Phật, thế nên bạn bè quấn quýt trong giấc mơ nhiều khi lại chính là những linh vật trong huyền thoại và cũng bởi một phần phận nghèo nên không ai muốn cho con kết bạn cùng. Cũng chính cái cảnh nghèo khó ấy khiến những bâng khuâng xao xuyến buổi đầu rung động nhiều khi thật bẽ bàng. Chàng hăm hở “băng đồng” đi hái hoa để tặng người, thế nhưng cái dáng “thư sinh lam lũ”, nghèo nàn cộng với bó hoa đồng nội thì người ở lầu cao kia “đâu dễ động tình” dù chàng đã đợi chờ đến khi hoa héo, đến độ “chòm mây trên đỉnh núi” kia cũng héo theo. Vậy mà, chàng có trách ai đâu, chỉ âm thầm tự trách mình quá đỗi vụng về nên chỉ hiểu được hoa thôi: Trở lại cành trơ, tự hổ ngươi Giá hoa còn đấy, hẳn đang tươi Vụng về đến phải vô duyên vậy Bởi hiểu hoa thôi chẳng hiểu người.
Tuy nhiên, hoàn cảnh riêng ấy không làm giảm đi tình cảm của chàng với mảnh đất Bình Định thân yêu. Hầu như những thi phẩm trong giai đoạn này của Yến Lan chính là thiên nhiên, cảnh sắc quê hương Bình Định với muôn hình muôn vẻ. Một mảnh đất cằn cỗi khiến người ta không thể nào gieo trồng được gì cả, người phải bỏ hoang, thành “đất góa”, “ruộng mồ côi”. Bởi cây cối nào có thể trụ được với đất sỏi, đồi trọc ấy.
Sự cằn cỗi đến đỗi mà “chuối chực bồng con, thân đã cỗi”, “ngọn tre” không vượt lên nổi “lùm gai”: Ở đây đất góa, ruộng mồ côi Cao, thấp chen chân những lũng đồi: Gò Hội, gò A nung sỏi đỏ Gò Nghiêm, gò Mỹ trọc mưa trôi! (Én Đào) Chính cái cằn cỗi ấy mà không chỉ thực vật, động vật mà đến những sinh vật phù du cũng khó tồn tại: Lặn lội – cò, le vẫn đói mồi Bàu Đưng, bàu Gốc mảng bèo phơi Bàu Hồ cỏ vượt, bàu Sim cạn Cái tép con tôm cũng lạc loài (Én Đào) Một cái tỉnh nhỏ không có sức sống, mà chỉ qua một đoạn thơ ngắn, tác giả đã khái quát được sự mòn mỏi, đìu hiu, bế tắc của nó mà nói như tác giả Đỗ Lai Thúy đó là: “Chỉ bằng mấy chục câu thơ mà Yến Lan đã làm được cái mà một nhà văn xuất sắc như Nam Cao cũng phải dựng hẳn một thiên tiểu thuyết “sống mòn” nổi tiếng” [96, tr.376] Tỉnh nhỏ, Võ vàng Nắng thắt ngang hầu thị trấn Gập ghềnh trên đường vắng: Cuộc đời – hay cỗ xe bò- Nhắm về phía mả mồ Chậm rãi lê từng bước một. (Lại về tỉnh nhỏ) Người ta thường ví cuộc đời với muôn vàn những danh từ mĩ miều khác nhau, vậy mà ở đây ngay tại cái thị trấn này, sự ngưng đọng, bế tắc của cuộc sống đến mức tác giả ví nó như cỗ xe bò, chưa hết, cỗ xe bò ấy đang chậm rãi lê từng bước về phía mã mồ. Một cuộc sống không hề còn có ý nghĩa, không tương lai, không đợi chờ.