chương Issala hạng Nhì, do chính phủ Lào tặng ● Huân chương OJI, do Hội nhà báo quốc tế tặng Theo tác giả Khánh Toàn: Nhiều cán bộ, phóng viên Báo Nhân Dân đã cùng làm việc hoặc từng làm việc với nhà báo Hà Đăng trên cương vị anh là phóng viên, cán bộ Ban, phó Tổng biên tập rồi Tổng biên tập, đều có nhận xét: Anh là người hiền từ nhưng rất nguyên tắc, nghiêm khắc nhưng rất tình cảm; sự bực bội, day dứt hay giấu kín trong lòng. Phong cách làm việc đó của anh khiến đồng nghiệp và cấp dưới thường yên tâm khi được anh giao nhiệm vụ hoặc nhắc nhở sai sót. Từ báo Nhân Dân lên công tác ở Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương, qua các cuộc giao ban báo chí, trên tư cách Trưởng ban, mọi người thường thấy anh khiêm nhường, từ tốn khi phổ biến tình hình, định hướng tuyên truyền và đánh giá hoạt động báo chí. Có thể nói: Từ nghề làm báo trưởng thành lên là cán bộ chỉ đạo báo chí, tư tưởng ở tầm vĩ mô, anh tỏ ra thông cảm với anh em đồng nghiệp trước tình hình thực tại nên sự uốn nắn, nhắc nhở anh em anh thường uyển chuyển, cẩn trọng lời lẽ, cân nhắc từng câu, từng từ để được việc nhưng cấp dưới thì thoải mái, tiếp thu có hiệu quả [15].
7 Hình 2: Đồng chí Lê Khả Phiêu chúc mừng đồng chí Hà Đăng nhận huy hiệu 50 năm tuổi Đảng[9]. Sự nghiệp báo chí của nhà báo Hà Đăng 1. Con đường báo chí Từ 1947 – 1955: Giai đoạn đầu trong quãng đời làm báo của Hà Đăng Hà Đăng tham gia Cách mạng tháng Tám từ khi 16 tuổi. Ông bước vào nghề báo một cách hoàn toàn ngẫu nhiên và tất cả đều dưới sự phân công của Đảng.
Năm 1946, khi đang là cán bộ ban tuyên truyền xã, tình cờ có một chiến sĩ cách mạng tên là Nguyễn Thường Khanh (nhà thơ Trần Mai Ninh) đến chơi nhà đã khuyên Hà Đăng nếu đi làm việc thì nên chọn nghề báo. Đến năm 1947, ông có bài báo đầu tiên với tiêu đề Tâm sự của đồng bạc trong két sắt đăng trên tờ Phấn đấu – cơ quan của Ty Thông tin tuyên truyền tỉnh Phú Yên. Bài báo này phản ánh thái độ của một số nhà giàu trước không khí sôi nổi của phong trào ủng hộ quỹ kháng chiến. Dân thì dù đói nghèo nhưng vẫn nhiệt tình quyên góp, trong khi nhiều nhà giàu lại chỉ đóng góp tượng trưng.
Trong bài, Hà Đăng có nói cũng là bạc như nhau nhưng bạc của nhà nghèo đóng góp làm ra lương thực súng đạn cho bộ đội, đó là đồng bạc ý nghĩa. Những đồng bạc đẹp hơn, được để trong két sắt của nhà giàu lại là những đồng bạc buồn tẻ, vô dụng. Khi viết bài này ông đang làm trưởng ban tuyên truyền xã nên khi thấy bài của mình được đăng thì vui không tả xiết. 8 Năm 1948, Hà Đăng được cử đi học Trường trung học bình dân miền Nam Trung Bộ do đồng chí Phạm Văn Đồng thành lập nhằm mục đích đào tạo cán bộ.
Chương trình học bậc thành chung là bốn năm nhưng Hà Đăng và các học viên khác chỉ học cấp tốc trong hai năm. Hồi ở nhà thì Hà Đăng viết cho báo tỉnh, khi đi học ông viết cho báo lớp, báo trường. Ông viết đủ thứ, viết cả văn, thơ, kịch. Có lẽ nhờ vậy mà ông ngày càng trưởng thành hơn.
Năm 1950, sau khi tốt nghiệp Trường trung học bình dân miền Nam Trung Bộ, Hà Đăng về công tác ở Ban đại diện Văn hóa cứu quốc miền Nam Trung Bộ, lãnh đạo là đồng chí Phan Thao – một nhà báo cách mạng. Ông được cử làm thư ký tòa soạn tạp chí miền Nam, được chủ nhiệm kiêm chủ bút Phan Thao trực tiếp chỉ dẫn công việc. Theo Hà Đăng, gọi là làm thư ký tòa soạn nhưng thực chất chỉ là trình bày trang và sắp xếp in. Lúc đầu, khi mới vào làm, Hà Đăng chưa hiểu công việc và lúng túng không biết phải làm gì.
Nhờ sự dẫn dắt của đồng chí Phan Thao mà dần thành thục với công việc. Do nhiều khó khăn về cơ sở vật chất và phương tiện kỹ thuật, Hà Đăng luôn phải bám sát nhà in, theo dõi và giải quyết các rắc rối phát sinh. Thường thì bài dài ông cắt bớt, bài ngắn thì ông viết thêm, việc mà lẽ ra chỉ có chủ bút mới có quyền. Năm 1951, Hà Đăng được các đồng chí Phan Thao, Tế Hanh, Nguyễn Văn Bổng.
chuyển sang báo Văn nghệ Liên khu V. Đến năm 1952, ông lại được điều về báo Nhân Dân Liên khu V do đồng chí Hồ Dưỡng phụ trách. Lúc này, báo chỉ có bốn người. Ở đây, Hà Đăng thường viết tin bài về tình hình trong địa phương, có lúc viết tin quốc tế, bình luận quốc tế.
Ngoài tên Hà Đăng, ông còn lấy tên là Hồng Hà. Với Hà Đăng, làm báo địa phương thời kháng chiến chưa thể nói là làm thật sự. Ông và các đồng nghiệp thường xuyên phải đi xuống các địa phương để viết về cuộc chiến đấu của quân dân ta. Báo thì chưa có phóng viên theo dõi, tin tức thường lấy từ các bản tin thời sự.
Các tin quốc tế chủ yếu lấy lại từ Đài Tiếng nói Việt Nam, tin trong nước cũng chủ yếu từ các bản tin trên đài. 9 Có thể nói, giai đoạn từ 1947 đến 1955 như bước dạo đầu trong quãng đời làm báo của Hà Đăng. Đây được coi là những năm tháng đầu ông tham gia vào làm báo, một thời kỳ hết sức khó khăn, thiếu thốn nhưng chính vì vậy ông đã trưởng thành nên rất nhiều. Từ 1955 – 1960: Giai đoạn đầu Hà Đăng ở báo Nhân dân Năm 1955, sau khi tập kết ra Bắc, Hà Đăng được điều về báo Nhân dân.
Đây có thể coi là một cột mốc quan trọng trong cuộc đời làm báo của Hà Đăng. Về báo Nhân dân, Hà Đăng và một số đồng chí khác được Tổng biên tập Hoàng Tùng tiếp. Hà Đăng nhớ mãi câu nói của đồng chí Hoàng Tùng: “ Ở địa phương các anh có làm vương làm tướng gì thì kệ, còn ở đây viết bài, Tổng biên tập duyệt và chữa. Bài dở thì bỏ.
Anh nào chấp nhận thì ở lại. Anh nào không chịu được có thể xin chuyển.” Có thể nói, cuộc đời làm báo của ông mở ra một bước ngoặt từ đây. Đi đâu, làm việc gì ông cũng luôn luôn nghĩ mình là người của báo Nhân dân, báo Đảng. Ban đầu, ông được phân công vào Ban nông thôn do nhà văn, nhà báo Nguyễn Văn Bổng phụ trách.
Ban có nhiệm vụ chính là theo dõi về sản xuất, tuyên truyền cải cách ruộng đất và tổ đổi công. Hà Đăng ở bộ phận sản xuất cùng các nhà văn, nhà báo Bùi Hiển, Nguyễn Địch Dũng. Ông vừa là phóng viên, vừa làm công tác biên tập. Với tư cách là phóng viên, Hà Đăng có điều kiện đi nhiều nơi ở đồng bằng Bắc Bộ và khu IV.
Sau một thời gian làm việc dưới sự hướng dẫn của Hoàng Tùng, Nguyễn Thành Lê. Hà Đăng hiểu rằng người làm báo Đảng, báo Trung ương thì không được vì lợi ích cá nhân mà viết theo ý kiến cá nhân của mình, phải vì lợi ích của đất nước, của nhân dân, tuân theo chỉ thị, nghị quyết của Trung ương. Ông còn nhớ, một lần đến Kiến An, tình cờ biết được một tổ sản xuất đặt kế hoạch đưa năng suất lúa lên gấp rưỡi. Nhiều nhận định cho rằng đó là một kế hoạch trên giấy.
Tuy nhiên, điều làm mọi người bất ngờ đó là vụ mùa tươi tốt, năng suất lúa tăng rất nhanh. Sau khi tìm hiểu kỹ càng, Hà Đăng viết 10 bài với tiêu đề “ Ngựa giấy biến thành ngựa thật”. Bài viết nói về khả năng thực hiện kế hoạch tưởng là không thể thực hiện nhưng nhờ sự cố gắng của con người mà thành công. Sau khi đăng, bài báo của ông đã được đánh giá cao.
Lần khác, Hà Đăng viết bài về phong trào chăn nuôi ở Vĩnh Phúc. Ngay sau khi bài báo đăng, trại lợn Hòa Loan, đối tượng nói đến trong bài viết, được nhiều người đến tham quan và trại lợn này đã trở thành một trại điển hình, trại kiểu mẫu. Năm 1961, chủ trang trại lợn này được bầu là chiến sĩ thi đua. Mấy chục năm sau, khi Hà Đăng và Chủ tịch tỉnh Vĩnh Phúc Lê Huy Ngọ vào thăm ông chủ trang trại, ông vẫn nhớ Hà Đăng và vẫn giữ bài báo năm xưa rất cẩn thận.
Thời kỳ này, báo Nhân dân thực hiện nghiên cứu về hợp tác hóa, cử các phóng viên giỏi đi điều tra tình hình cụ thể. Hà Đăng và các đồng nghiệp phải tiến hành một cuộc điều tra sâu rộng, đặc biệt đi vào tìm hiểu tỉnh Thanh Hóa và tỉnh Thái Bình – một tỉnh làm nhanh và một tỉnh làm chậm. Hà Đăng cùng với các nhà báo Lê Điền, Phan Quang, Văn Sơn, Hữu Thọ, Nguyễn Địch Dũng được phân công về Thái Bình tìm hiểu. Hà Đăng cùng với Hữu Thọ đi về huyện Duyên Hà của Thái Bình.
Sau khoảng mười ngày nghiên cứu, Hà Đăng cùng nhà báo đã làm việc với Thường vụ Tỉnh ủy, trao đổi về việc Thái Bình có sự chậm trễ trong phong trào hợp tác hóa và tổ đổi công. Mặc dù đồng chí Bí thư Tỉnh ủy trả lời là Thái Bình không làm chậm nhưng với những chứng cớ, thông tin thu thập được, tổ phóng viên điều tra của báo Nhân dân vẫn viết bài điều tra đăng trên bốn kỳ liên tiếp. Với bằng chứng xác thực, loạt bài điều tra đã gây được tiếng vang lớn, được đưa ra thảo luận rộng rãi ở các cấp. Sau khi Trung ương kết luận là Thái Bình làm chậm thì các đồng chí lãnh đạo ở đây cũng thừa nhận điều này.
Năm 1961, Hội nhà báo lần đầu tổ chức giải thưởng, bài Ba lần đuổi kịp trung nông của ông đạt giải nhất. Và phần thưởng cho giải nhất là chiếc 11 đồng hồ Pôn Jot (Liên Xô). Thời kỳ này, cả nước đang phát triển phong trào học tập những gương tốt, những điển hình tiên tiến trong nông nghiệp, công nghiệp và trong quân đội. Hà Đăng rất vui vì những bài viết của mình đã có đóng góp một phần nào đó cho phong trào ấy, nhất là khi hợp tác xã Đại Phong trong bài Ba lần đuổi kịp trung nông được tuyên dương anh hùng.
Một lần về Hưng Yên, Hà Đăng có viết bài “ Từ kè Hàm Tử đến cung Lan Đình”. Nội dung bài viết nêu lên những điểm xung yếu của một tuyến đê, phê phán công tác phòng chống lụt của tỉnh Hưng Yên còn nhiều bất cập. Khi bài báo được đăng, Bí thư Tỉnh ủy Hưng Yên Lê Quý Quỳnh rất hoan nghênh.