Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Khái niệm ẩn ức và ẩn ức trong tâm lý học 1. Khái niệm ẩn ức Trong đời sống của mình, loài người luôn phải đối diện và đương đầu với muôn vàn những vấn đề nảy sinh. Gắn liền với thực tiễn đời sống đó, con người bắt buộc phải đưa ra được lựa chọn, giải quyết.
Với ứng xử của từng cá nhân trước thực tiễn, sẽ có hai chiều hướng: một là được sự chấp nhận và đồng tình của chính cá nhân và cộng đồng, xã hội; hai là đi lệch với quan điểm vốn được chấp nhận của cộng đồng và xã hội. Con người cá nhân trong suốt cuộc đời mình phải chọn lựa, vật lộn trong hai thái cực đó. Con người cũng là sản phẩm tiến hóa vượt trội nhất trong muôn loài trên trái đất, tức ngoài cái “bản năng” sinh học như vạn vật, thì cái làm nên sự vượt trội, chính là yếu tố “người” - tức trạng thái xã hội, đạo đức, chuẩn mực, nhân cách. Giữa “bản năng” sinh học và “yêu cầu” xã hội luôn luôn tương tác với nhau, phối hợp với nhau theo hai chiều, khi thì thúc đẩy nhau cùng song hành tồn tại và phát triển, khi thì lại xảy ra quá trình tranh đấu, đối lập, triệt tiêu lẫn nhau.
Quá trình và trạng thái ấy được quy nạp cô gọn về hai thái cực đó là “vật chất” và “tinh thần”, đồng thời cũng là những chất liệu quan trọng bậc nhất của cuộc sống mà loài người luôn mưu cầu. Với sự tồn tại của mình trong thực tế đời sống, loài người luôn có hai trạng thái cơ bản, đối lập nhau: hài lòng và không hài lòng, hay nói cách khác là thỏa mãn và không thỏa mãn. Tất cả những trạng thái đó phản ánh cô đặc, sâu đậm nhất trong suy nghĩ và não bộ con người được thể hiện qua tâm lý, hành động và những biểu hiện của họ. Ở trạng thái nhứ nhất, sự hài lòng, thường đi kèm với tâm lý thỏa mãn, hưng phấn, hạnh phúc, tự tin; ở trạng thái thứ hai, không hài lòng, sẽ nảy sinh sự ức chế, buồn bã, cô đơn, thậm chí xấu hổ, tủi nhục.
Nếu so sánh hai trạng thái trên, gây dấu ấn đậm sâu nhất, dai dẳng nhất trong tâm trí con người, chính là tâm lý tiêu cực, sự ức chế. Trong tâm lý tiêu cực, ức chế của con người, mãnh liệt nhất chính là ẩn ức. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Về giới thuyết khoa học, người ta định nghĩa ẩn ức tức là những cảm xúc tiêu cực xuất hiện lặp đi lặp lại, không được nhận thức, không được chấm dứt hoặc chuyển hóa, dẫn đến tích dồn theo thời gian. Ẩn ức để lại dấu ấn sâu đậm trong tâm trí con người, có tác động nhất định đến tâm lý và phép ứng xử cá nhân.
Nói cách khác, ẩn ức là trạng thái các khuynh hướng bị ngăn trở, không thực hiện được, trở thành một thứ xung động nội tâm, được gọi là refoulement. Ẩn ức ví như dòng nước bị chặn lại, hay giống như quả bóng ngày một bơm căng, không dừng lại. Ẩn ức trong tâm lý học Ẩn ức là một hiện tượng tâm lý học đặc biệt của con người. Ẩn ức liên quan tới sự ức chế tâm lý, hay thần kinh của con người.
Việc chữa bệnh suy nhược thần kinh bằng phương pháp phân tích tâm lý (qua sự dồn nén và ẩn ức tinh thần, tâm lý) được Freud gọi là phân tâm học (Psychoanalysis). Theo cách lý giải của các nhà tâm lý học, mà tiêu biểu là Sigmund Freud (1856 - 1939) thì trạng thái ẩn ức mang những đặc điểm cơ bản sau: Freud cho rằng, hệ thống vô thức trong con người thể hiện những xung năng, dục vọng, bản năng sống. Nội dung chính của chúng là những thèm muốn tính dục mãnh liệt nhưng lại bị ý thức xã hội (biểu hiện bởi những cấm đoán của xã hội) kiềm chế. Vì vậy, con người thường xuyên xuất hiện lo âu, ức chế và các trạng thái loạn tâm thần.
Có khi chúng được thỏa mãn giả vờ thông qua các hình thức mộng mị, nói nhịu, viết nhầm…hoặc được thăng hoa dưới các hình thức như những khát vọng, tình cảm cao thượng, sự say mê tôn giáo, khoa học, sáng tác văn học, nghệ thuật, âm nhạc… Về quá trình hình thành nhân cách con người, nguyên khởi được tạo dựng qua sự tương tác phức hợp giữa các xung năng (driven) với những kinh nghiệm thời ấu thơ của mỗi cá nhân. Sau này, mọi biểu hiện và hành vi của con người đều là kết quả của cách nuôi dạy, đối xử của bố mẹ, cộng đồng, khi họ còn bé, nhất là trong 5 năm đầu tiên của cuộc đời. Freud cho rằng, con người tiếp tục thỏa mãn những mong muốn của họ trong tương lai bằng quá trình tương tác với người khác. Tâm lý con người được tạo thành bởi ba thành tố là: bản năng vô thức; cấu trúc nhân cách và cơ chế tự vệ.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Bản năng vô thức là phần sinh học tự nhiên mà con người được kế thừa, là thứ hình thành trước nhất, bản năng thuộc về vô thức, tức nằm ngoài sự kiểm soát của con người. Trong bản năng, lại chia ra làm hai loại là bản năng sống và bản năng chết. Tiếp nữa là cấu trúc nhân cách, được cấu thành bởi ba yếu tố: Nó (Id), Cái tôi (Ego), Cái siêu tôi (Super Ego). Ba yếu tố này được sản sinh và phát triển khi con người được 5 tuổi, luôn luôn vận động và tương tác với nhau, chi phối rất lớn, thậm chí tạo ra “cá tính” riêng cho từng cá nhân.
Yếu tố Nó tồn tại và vận động theo nguyên tắc thỏa mãn, yếu tố cái Tôi lại theo nguyên tắc thực tiễn, còn yếu tố siêu Tôi lại tuân theo nguyên tắc kiểm duyệt. Như thế, trong ba yếu tố này, nổi lên mâu thuẫn giữa cái Nó và cái siêu Tôi, mẫu thuẫn này dẫn tới trạng thái tâm lý đặc trưng của con người, đó là sự căng thẳng, ức chế thần kinh. Sự căng thẳng hay ức chế về thần kinh là đỉnh điểm, là điểm nút trong tâm lý con người, đòi hỏi phải được chuyển hóa và khai phóng. Để thoát khỏi trạng thái đó, con người cần có những cơ chế tự vệ để tạo được sự cân bằng trong tâm lý.
Cơ chế tự vệ của bản thân con người khá đa dạng và theo những chiều hướng khác nhau, mỗi một chiều hướng lại có những biểu hiện và kết quả khác nhau. Đó là sự dồn nén, sự phóng chiếu, sự chối bỏ, sự thoái bộ, tạo lập phản ứng, phá bỏ, thăng hoa và mơ mộng. Cũng theo cách lí giải của Freud, nhân cách con người phát triển qua nhiều giai đoạn khác nhau, mỗi giai đoạn ứng với độ tuổi và môi trường được nuôi dưỡng. Như thế, với tám cơ chế tự vệ của con người để giải quyết những xung năng dồn nén kia ẩn ức thường gắn với cơ chế thứ nhất, đó là sự dồn nén, mang tính vô thức.
Cơ chế tự vệ này mang tính bản năng, nằm ngoài lý trí của con người. Cũng với sự đa dạng của “loại thức” xung năng, của đối tượng cá thể, của cách lựa chọn cơ chế tự vệ mà tạo nên sự đa dạng, đa diện của biểu hiện con người, thầm kín dằn vặt, loạn tâm, loạn thần, dâm loạn, chối bỏ thực tại, hoặc sáng tạo nên những giá trị độc đáo về nghệ thuật, âm nhạc, văn học - nhờ những thăng hoa tâm lý. Phân tâm học và văn học nghệ thuật Mỗi con người là một tổ chức tâm thần phức hợp. Đối diện với thực tại đầy phức tạp và biến động không ngừng nên con người ai cũng có xung đột nội tâm.
Đó là LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 đời sống tinh thần phong phú, với những xung đột, tình cảm xúc động, thất vọng, thỏa mãn, lo sợ và hy vọng. Cái thế giới này không có thực ngoài đời, không cụ thể, không nhìn được, ấy là thế giới nội tâm mà phân tâm học gọi là thực thể tâm thần. Nghệ thuật với các ngành của nó như điêu khắc, hội họa, văn học, điện ảnh… là của con người, do con người sáng tạo nên, từ con người, cho con người. Cần thấy rằng, con người không chỉ là cái nhìn thấy ở bề ngoài của nó, mà còn là nguồn gốc sâu xa và kín đáo trong mỗi cá nhân.
Nguồn gốc sâu xa và kín đáo ấy tạo nên văn hóa, mĩ cảm của nghệ thuật. Nhờ vậy, phân tâm học đưa ra một cách nhìn mới mẻ làm sâu sắc hơn nghệ thuật. Người nghệ sĩ khi thực hiện sáng tạo nghệ thuật đã thể hiện sắc màu vô hình này của thực thể tâm thần của chính bản thân họ để tạo nên tác phẩm nghệ thuật. Trước hết, nó là sự thỏa mãn riêng của mình, là giải thoát những day dứt và bó buộc của thực tế.
Ước vọng của nghệ sĩ trước hết là của chính họ. Nó trở nên tác phẩm nghệ thuật nghĩa là ước vọng đó là của người nghệ sĩ chân chính, nghĩa là người nghệ sĩ với tài năng của mình đã biến đổi những gồ ghề, thô ráp của mộng mị mê sảng, dùng kỹ thuật thẩm mĩ để che giấu được nguồn gốc cá nhân của sáng tạo và trình bày lại dưới một hình thức khác gọi khoái cảm. Đó là nghệ thuật. Văn học là một ngành quan trọng của nghệ thuật.
Quá trình hình thành và phát triển của nó đã được nghiên cứu từ rất lâu. Lịch sử nghiên cứu và phê bình văn học đã có truyền thống với sự phong phú và đa dạng của các hình thức như văn học sử, nghiên cứu lịch đại và đồng đại, nghiên cứu so sánh, nghiên cứu xã hội học, nghiên cứu liên văn bản, nghiên cứu tiếp nhận ., nhưng đến khi phân tâm học ra đời thì nó mang một sắc thái và diện mạo mới - sâu sắc hơn, phong phú hơn, đầy đủ hơn (Mặc dù khởi thủy của phân tâm học là phương pháp chữa bệnh thần kinh. Về sau chính Freud cũng lấy làm ngạc nhiên bởi hiệu quả của nó trong khi ứng dụng vào nghiên cứu và phê bình văn học). Phân tâm học coi tác phẩm văn học là một thế giới gồm tác giả, người đọc, nhân vật, hiện tượng (phenomens) được nhà văn, nhà thơ xây dựng trong đó, có đời sống riêng với những quy luật tâm lý riêng, cá biệt không trộn lẫn nhau trong quá trình phát triển.
Trong thế giới này, tất cả mọi chi tiết, sự kiện đều được coi là những biểu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 tượng phản ánh những ước muốn và những vô thức bị dồn nén của tác giả.