phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm 3 chương: Chương1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về khai thác tiềm năng phát triển du lịch. Chương 2: Phân tích thực trạng khai thác tiềm năng du lịch Vĩnh Phúc Chương 3: Một số giải pháp khai thác tiềm năng để phát triển du lịch Vĩnh Phúc đến năm 2020. 6 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KHAI THÁC TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH 1. Du lịch và tiềm năng du lịch 1.
Quan niệm về du lịch Trong hơn một thế kỷ qua, ngành du lịch đã thực sự phát triển và trở thành một trong những lĩnh vực chủ yếu của hoạt động kinh tế ở nhiều quốc gia trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Thực tế có khá nhiều nhà nghiên cứu đã quan tâm tới ngành này. Tuy nhiên, nhận thức về du lịch vẫn chưa thực sự thống nhất. Trước thực trạng đó, việc nghiên cứu và thảo luận để đi đến thống nhất khái niệm du lịch là một đòi hỏi cần thiết.
Theo giáo sư người Thụy Sĩ, Hunziker và Krapf, Du lịch là tổng hợp các hiện tượng và các mối quan hệ nảy sinh từ việc đi lại và lưu trú của những người ngoài địa phương - những người không có mục đích định cư và không liên quan tới bất cứ hoạt động kiếm tiền nào. Quan niệm trên được Hiệp hội quốc tế các chuyên gia khoa học về du lịch thừa nhận. Quan niệm này đã làm cơ sở để xác định người đi du lịch và là cơ sở hình thành cầu về du lịch sau này. Tuy nhiên, với quan niệm trên, du lịch mới chỉ được giải thích ở hiện tượng đi du lịch.
Tiếp cận du lịch dưới góc độ là một ngành kinh tế, các học giả Mỹ McIntosh, Goeldner và Ritchie cho rằng "Du lịch là một ngành tổng hợp của các lĩnh vực lữ hành, khách sạn, vận chuyển và tất cả các yếu tố cấu thành khác kể cả xúc tiến quảng bá nhằm phục vụ các nhu cầu và mong muốn đặc biệt của khách du lịch, [2, tr17]. Và theo Luật Du lịch Việt Nam (năm 2005, có hiệu lực từ ngày 01/01/2006), “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghĩ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [13, tr 6]. 7 Như vậy, theo các cách tiếp cận khác nhau, bản chất của du lịch là tìm các cách thức để thỏa mãn nhu cầu của người di du lịch trên cơ sở đảm bảo lợi ích của người cung ứng, của Nhà nước và của khách du lịch. Các loại hình du lịch: Hoạt động du lịch có thể được phân chia thành các nhóm khác nhau tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu mà có các tiêu chí phân loại khác nhau.
Hiện nay việc phân chia các loại hình du lịch chủ yếu theo các tiêu chí cơ bản sau: Phân loại theo môi trường tài nguyên: Du lịch là một ngành có định hướng tài nguyên rõ rệt. Tùy vào môi trường tài nguyên, hoạt động du lịch có thể chia thành: - Du lịch văn hóa: Hoạt động du lịch diễn ra chủ yếu trong môi trường nhân văn hoặc hoạt động du lịch đó tập trung khai thác tài nguyên du lịch nhân văn, thu hút những người mà mối quan tâm chủ yếu của họ là truyền thống lịch sử, phong tục tập quán, nền văn hóa nghệ thuật…của điểm đến. - Du lịch tự nhiên: Là loại hình hoạt động du lịch đưa du khách về những nơi có môi trường tự nhiên trong lành, cảnh quan tự nhiên hấp dẫn nhằm thỏa mãn nhu cầu đặc trưng của họ, hấp dẫn những người thích tận hưởng bầu không khí ngoài trời, thích thưởng thức phong cảnh đẹp và đời sống động thực vật hoang dã. Trong số các loại hình du lịch thiên nhiên có thể kể đến như du lịch biển, du lịch núi, du lịch nông thôn… Phân loại theo mục đích chuyến đi: Mục đích chuyến đi có thể chỉ thuần túy là nghỉ ngơi, giải trí, nâng cao nhận thức tại chỗ về thế giới xụng quanh.
Ngoài ra có những chuyến du lịch với các lý do khác như học tập, công tác, hội nghị, nghỉ dưỡng…. Trên cơ sở đó có thể phân chia du lịch thành hai nhóm: - Nhóm có mục đích du lịch thuần túy: Bao gồm các loại hình du lịch tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng, thể thao (chơi, tập luyện), khám phá. - Nhóm có mục đích du lịch kết hợp: Bao gồm các loại hình du lịch tín ngưỡng, học tập nghiên cứu, hội họp, thể thao (thi đấu, cổ vũ), kinh doanh, công tác, chữa bệnh, thăm thân… 8 Phân loại theo phạm vi lãnh thổ: - Du lịch nội địa: Là chuyến đi của người đi du lịch từ chỗ này sang chỗ khác trong phạm vi đất nước của mình. - Du lịch quốc tế: Là chuyến đi của người du lịch từ nước này sang nước khá 1.
Phát triển du lịch: a. Quan điểm phát triển du lịch Trên thực tế, liên quan đến phát triển du lịch có nhiều quan điểm khác nhau. Trong những năm gần đây, hầu hết các quốc gia đã thay đổi quan điểm phát triển du lịch theo hướng bền vững. Ở Việt Nam việc đầu tư phát triển du lịch phải đảm bảo các nguyên tắc phát triển du lịch đã được đưa ra trong Luật Du Lịch Việt Nam [13, tr 9]: - Phát triển du lịch bền vững, theo quy hoạch, kế hoạch, bảo đảm hài hòa giữa kinh tế, xã hội và môi trường, phát triển có trọng tâm, trọng điểm theo hướng du lịch văn hóa - lịch sử, du lịch sinh thái; bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị của tài nguyên du lịch.
- Bảo đảm chủ quyền quốc gia, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội. - Bảo đảm lợi ích quốc gia, cộng đồng, lợi ích chính đáng và an ninh, an toàn cho khách du lịch, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch. - Bảo đảm sự tham gia của mọi thành phần kinh tế, mọi tầng lớp dân cư trong phát triển du lịch. - Góp phần mở rộng quan hệ đối ngoại và giao lưu quốc tế để quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam.
- Phát triển đồng thời du lịch trong nước và du lịch quốc tế, tăng cường thu hút ngày càng nhiều khách du lịch nước ngoài vào Việt Nam. Phát triển du lịch bền vững là mục tiêu của mọi quốc gia, hiện nay trên thế giới chưa thống nhất về quan niệm phát triển du lich bền vững. du lịch bền vững được định nghĩa theo một số cách khác nhau. Theo hội đồng du lịch và nữ hành thế giới (WTTC), 1996 thì: “Du lịch bền vững là việc đáp ứng các yêu cầu hiện tại của khách và vùng du lịch mà vẫn đảm bảo những khả năng đáp ứng nhu cầu cho các thế hệ du lịch tương lai.” [1, tr 15] 9 Đây là một định nghĩa ngắn gọn dựa trên định nghĩa về phát triển bền vững của UNCED.
Tuy nhiên định nghĩa này còn quá chung chung, chỉ đề cập đến sự đáp ứng nhu cầu của du khách hiện tại và tương lai chứ chưa nói đến nhu cầu của cộng đồng dân cư địa phương, đến môi trường sinh thái, đa dạng sinh học …. Tại hội nghị về môi trường và phát triển của liên hiệp quốc tại Riode Janeiro năm 1992, Tổ chức du lịch thế giới (WTO) đã đưa ra định nghĩa: “ Du lịch bền vững là việc phát triển các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại của khách du lịch và người dân bản địa trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên cho việc phát triển hoạt động du lịch trong tương lai. Du lịch bền vững sẽ có kế hoạch quản lý các nguồn tài nguyên nhằm thuả mãn các nhu cầu về kinh tế, xã hội, thẩm mỹ của con người trong khi đó vẫn duy trì được sự toàn vẹn về văn hóa đa dạng sinh học, sự phát triển của các hệ sinh thái và hệ thống hỗ trợ cho cuộc sống con người ” [1, tr16]. Định nghĩa này đã hàm chứa đầy đủ các nội dung các hoạt động, các yếu tố liên quan đến du lịch bền vững, định nghĩa này cũng đã chú trọng đến cộng đồng dân cư địa phương, bảo vệ môi trường sinh thái, gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc.
Các tác động của phát triển du lịch Hầu hết các nhà nghiên cứu về du lịch đều thống nhất phân loại các tác động của du lịch đối với điểm đến thành 3 loại: * Tác động kinh tế của du lịch Hoạt động du lịch có tác dụng biến đổi cán cân thu chi của địa phương và của đất nước. Du khách quốc tế mang ngoại tệ vào đất nước du lịch, làm tăng thêm nguồn thu ngoại tệ cho điểm đến và ngược lại. Hoạt động du lịch phát triển, lượng du khách đến tăng lên sẽ làm cho nhu cầu về mọi hàng hóa tăng lên đáng kể. Điều này đã kích thích mạnh mẽ các ngành kinh tế có liên quan, đặc biệt là nông nghiệp, công nghiệp chế biến, các nghề truyền thống… Ở nhiều nước, ngành du lịch tạo ra sự nổi tiếng cho sản xuất nông nghiệp cũng như công nghiệp địa phương và có tác dụng tích cực làm thay đổi bộ mặt kinh tế của đất nước.
Trong những năm qua, lượng khách quốc tế đến Việt Nam có sự tăng trưởng nhanh liên tục: đạt 5,05 triệu lượt (năm 2010), 6,01 triệu lượt (năm 2011) và 6,85 10 triệu lượt (năm 2012) và trên 7 triệu 2013. Bên cạnh đó, khách du lịch nội địa cũng tăng nhanh chóng: trên 28 triệu lượt (năm 2010), 30 triệu lượt (năm 2011) và 32,5 triệu lượt (năm 2012); khách du lịch ra nước ngoài đang có xu hướng tăng trưởng rõ rệt. Tổng thu du lịch ngày càng cao, đạt 96 nghìn tỷ đồng (năm 2010), 130 nghìn tỷ đồng (năm 2011) và 160 nghìn tỷ đồng (năm 2012), chiếm tỷ trọng hơn 5% trong GDP cả nước. Tuy nhiên, kết quả này chưa tương xứng với tiềm năng; tỷ trọng khách du lịch thuần túy có mức chi tiêu cao và khách nghỉ dưỡng còn thấp.
Với doanh thu khoảng 96.000 tỷ đồng, đóng góp 5% GDP cả nước, tạo việc làm cho hơn 1,4 triệu lao động, năm 2012 ngành du lịch Việt Nam đã tiến thêm một bước, khẳng định vị thế của mình với nền kinh tế quốc dân (xem Bảng 1. Tuy nhiên, du lịch cũng có những ảnh hưởng tiêu cực về mặt kinh tế.