Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Khai thác múa xòe Thái tại Mường Lò, Yên Bái phục vụ cho phát triển du lịch" được thực hiện bởi sinh viên Vũ Trung Kiên (ngành Quản trị Dịch vụ Du lịch và Lữ hành, Trường Đại học Quản lý và Công nghệ Hải Phòng) dưới sự hướng dẫn của ThS. Nguyễn Thị Phương Thảo vào năm 2020. Nghiên cứu xuất phát từ bối cảnh du lịch văn hóa đang phát triển mạnh mẽ và trở thành nhu cầu thiết yếu trong đời sống xã hội. Dân tộc Thái tại vùng Tây Bắc Việt Nam sở hữu kho tàng di sản văn hóa đặc sắc, tiêu biểu là nghệ thuật múa xòe với các điệu xòe cổ mang đậm tính gắn kết cộng đồng và giá trị nhân sinh.

Trong số các địa phương có di sản xòe Thái (Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Yên Bái), tỉnh Yên Bái là đơn vị được lựa chọn đăng cai chủ trì xây dựng hồ sơ quốc gia trình UNESCO công nhận Nghệ thuật Xòe Thái là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Mường Lò (thị xã Nghĩa Lộ và vùng phụ cận thuộc huyện Văn Chấn) được coi là cái nôi, quê tổ của người Thái Đen và là nơi sản sinh các điệu xòe cổ. Tuy nhiên, việc khai thác giá trị của múa xòe vào hoạt động du lịch tại Mường Lò trong thực tế vẫn còn nhiều hạn chế, chưa phát huy hết tiềm năng kinh tế và giá trị di sản.

Đề tài xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu trọng tâm:

  1. Tìm hiểu về nguồn gốc, đặc trưng và giá trị của múa xòe Thái tại Mường Lò, Yên Bái.
  2. Phân tích thực trạng khai thác múa xòe Thái tại Mường Lò phục vụ phát triển du lịch (lượng khách, doanh thu, hạ tầng cơ sở vật chất, sản phẩm và sự kiện du lịch).
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả khai thác và công tác quản lý múa xòe Thái nhằm phục vụ phát triển du lịch bền vững tại Yên Bái.
  • Đối tượng nghiên cứu: Múa xòe Thái tại Mường Lò, Yên Bái và thực trạng khai thác múa xòe Thái cho phát triển du lịch.
  • Phạm vi không gian: Khu vực cánh đồng Mường Lò, tập trung tại thị xã Nghĩa Lộ và các địa bàn lân cận thuộc tỉnh Yên Bái.
  • Phạm vi thời gian: Thu thập và xử lý các số liệu, dữ liệu thực tiễn từ năm 2015 đến năm 2019.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận thuộc loại hình nghiên cứu địa chí - văn hóa ứng dụng trong quản trị du lịch, kết hợp giữa lý luận văn hóa dân gian và thực tiễn phát triển sản phẩm du lịch.

  • Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng: Tác giả tiếp cận các khái niệm về điểm du lịch, tài nguyên du lịch văn hóa phi vật thể, du lịch cộng đồng (homestay) và mối quan hệ tương hỗ giữa bảo tồn di sản với phát triển kinh tế du lịch. Đề tài viện dẫn các tư liệu lịch sử dân tộc học của Jerold A. Edmondson, David Wyatt, các thư tịch cổ Thái (Quám tố mương - Chuyện bản Mường) và các nghiên cứu Thái học của các tác giả Đoàn Hữu Nam, Nông Văn Nhay, Hoàng Ngọc Sửu, Lò Mai Cương (NXB Thế giới, 2015).
  • Căn cứ pháp lý: Quyết định số 5079/QĐ-BVHTT&DL ngày 27/12/2012 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc công nhận sáu điệu xòe cổ của người Thái ở thị xã Nghĩa Lộ là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia; Đề án "Xây dựng mô hình du lịch cộng đồng gắn với giảm nghèo và xây dựng nông thôn mới" tại thị xã Nghĩa Lộ; các nghị quyết của HĐND thị xã Nghĩa Lộ về chỉ tiêu phát triển du lịch.
  • Phương pháp nghiên cứu:
    • Phương pháp phân tích - tổng hợp: Hệ thống hóa các đặc điểm nhân chủng, lịch sử di cư, phong tục tập quán và phân tích kỹ thuật 6 điệu xòe cổ.
    • Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Thu thập, chọn lọc dữ liệu từ sách báo chuyên ngành, niên giám thống kê, báo cáo của Sở Du lịch Yên Bái, tài liệu từ Thư viện trường Đại học Quản lý và Công nghệ Hải Phòng và tư liệu khảo sát thực tế tại Công ty Cổ phần Du lịch và Dịch vụ Hòn Gai.
  • Nguồn dữ liệu: Báo cáo ngành du lịch thị xã Nghĩa Lộ năm 2018, số liệu thống kê dân số các đợt Tổng điều tra dân số năm 1999 và 2009.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Khái quát về tộc người Thái và múa xòe Thái

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở dân tộc học và lịch sử của người Thái tại Việt Nam cùng nghệ thuật xòe dân gian:

  • Nguồn gốc và phân bố dân cư: Người Thái (tự gọi là Táy, Tay, Tày) có mặt tại Tây Bắc hơn 1.200 năm, phân thành các nhóm: Thái Đen (Tày Đăm), Thái Trắng (Tày Đón/Tày Khao), Thái Đỏ (Tày Đèng), Tày Mười, Tày Thanh, Phu Thay. Theo số liệu Tổng điều tra năm 2009, dân tộc Thái có dân số đứng thứ 3 tại Việt Nam (hơn 1,4 triệu người), tập trung đông nhất tại Sơn La (572.441 người), Nghệ An (295.132 người), Thanh Hóa (225.336 người), Điện Biên (186.270 người), Lai Châu (119.805 người) và Yên Bái (53.104 người).
  • Đặc trưng văn hóa tộc người: Ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Tai-Kadai (5 vùng thổ ngữ), chữ viết cổ gốc Sanskrit (8 bộ ký tự địa phương trước khi thống nhất năm 2008). Văn hóa vật chất và tinh thần thể hiện qua nhà sàn (kiểu vì khứ kháng và khay điêng, khau cút hình mai rùa của Thái Đen), trang phục áo cóm khuy bạc và váy dài kèm khăn piêu, tục ở rể, búi tóc tẳng cẩu, thi ca dân gian (Xống chụ xon xao, Khun Lú Nàng Ủa), hát khắp và lễ hội (xên bản, xên mường, xên đông, kin pang, tết Síp xí).
  • Nghệ thuật múa xòe: Khởi nguồn từ 6 điệu xòe cổ, nay phát triển thành 32-36 điệu. Tác giả chỉ ra vai trò của xòe trong lịch sử qua các đội xòe Mường So (Lai Châu) của Đèo Văn Ân, đội xòe Điện Biên của Đèo Văn Long thời Pháp thuộc, và sự phát triển của hơn 3.000 đội xòe bản làng tại Sơn La tính đến 2015. So sánh đặc trưng xòe Điện Biên (3 động tác: xé khen vung - tay cao, xé khen tàn - tay thấp, xé hạng eo - tay ngang eo) với xòe Yên Bái.

Chương 2: Thực trạng khai thác múa xòe Thái tại Mường Lò, Yên Bái cho phát triển du lịch

Chương 2 đi sâu khảo sát thực địa địa bàn Mường Lò, phân tích cấu trúc 6 điệu xòe cổ, các giá trị nội tại và thực trạng kinh doanh du lịch:

  • Điều kiện địa bàn Mường Lò: Cánh đồng Mường Lò rộng 2.300 ha (lớn thứ hai Tây Bắc), nằm ở độ cao trung bình 250m, khí hậu nhiệt độ trung bình 22,5°C, 1.700 giờ nắng/năm, nguồn nước từ ngòi Thia, ngòi Nung, suối Đôi. Nơi đây quy tụ 17 dân tộc, trong đó người Thái Đen chiếm số đông với nghề dệt thổ cẩm truyền thống và văn hóa ẩm thực đặc trưng (xôi nếp tan, rêu suối Thia nướng/hấp, thịt trâu sấy, măng chua, mắc khén, hạt dổi).
  • Cấu trúc 6 điệu xòe cổ Mường Lò (được công nhận Di sản quốc gia năm 2012):
    1. Khắm khăn mơi lẩu (Nâng khăn mời rượu): Đội hình 4-12 nữ, nhịp 3/4 khèn bè, bước chân tin xệt hoặc tin dống dông, quỳ gối dâng rượu thể hiện lòng hiếu khách và nghi thức tâm linh mời linh hồn tổ tiên (chén nóng).
    2. Nhôm khăn (Tung khăn): Nhịp 2/4 đến 3/4, bước chân tin xắp, khăn thổ cẩm tung cao theo vòng tròn đồng tâm tối thiểu 5 người, mô tả niềm vui mùa vụ bội thu và nghề trồng bông dệt vải.
    3. Đổn hôn (Tiến lùi): Nhịp kép 4/4 và 2/4, bước tin xắp, sử dụng trọn bộ nhạc cụ (trống, chiêng, khèn bè, mác hính, tằng bẳng, pí ló, pí pặp), thể hiện ý chí kiên định vượt qua trở ngại cuộc sống.
    4. Phá xí (Bổ bốn): Nhóm 4 người tạo hình hoa ban 5 cánh, hình vuông, thoi, bình hành, bước chân tin khoang và tin xắp, nhịp 2/4 và 3/4, chứa đựng triết lý âm dương ngũ hành và sự cố kết cộng đồng.
    5. Khắm khen (Nắm tay): Điệu xòe sơ khai cơ bản nhất, vòng tròn di chuyển theo chiều quay trái đất, nhịp 2/4, bước tin khoang, tay vung góc không quá 150°, không hạn chế người tham gia.
    6. Ỏm lọm tốp mư (Vòng tròn vỗ tay): Điệu xòe kết thúc cuộc vui, bước tin khoang nhịp 1-2-3-4, vỗ tay theo nhịp co chân góc 150°, biểu hiện niềm hân hoan, bịn rịn chia tay.
  • Giá trị của xòe Thái: Được tác giả phân loại thành 6 nhóm giá trị: Lịch sử, Văn hóa - Xã hội, Khoa học, Nghệ thuật thẩm mỹ, Giáo dục và Du lịch.
  • Hiện trạng hoạt động du lịch tại Nghĩa Lộ (Mường Lò):
Chỉ tiêu du lịch Nghĩa Lộ Năm 2018 So sánh với 2017 / Kế hoạch
Tổng lượt khách du lịch > 77.000 lượt Tăng 18,5% so với 2017 (vượt 2,7% kế hoạch HĐND)
Lượt khách quốc tế 4.284 lượt Thị trường chính: Pháp, Mỹ, Canada...
Tổng doanh thu lưu trú & ăn uống 184 tỷ đồng Tăng 11,5% so với năm 2017
- Doanh thu dịch vụ lưu trú 19,2 tỷ đồng -
- Doanh thu dịch vụ ăn uống 164,8 tỷ đồng -
Hạ tầng cơ sở lưu trú > 40 cơ sở (>350 phòng) Khả năng đáp ứng gần 1.000 chỗ nghỉ/ngày
Mô hình du lịch cộng đồng 15 - 20 hộ Điển hình: Hộ bà Hoàng Thị Loan (bản Sà Rèn) đón 15-20 đoàn/tháng (~300 khách), thu nhập >100 triệu đồng/tháng, giải quyết 5 lao động
  • Khai thác múa xòe trong sự kiện và tour tuyến: Xòe Thái trở thành tâm điểm của Lễ hội Văn hóa - Du lịch Mường Lò và khám phá Danh thắng Ruộng bậc thang Mù Cang Chải (tháng 9-10 hàng năm). Tiêu biểu là màn Đại xòe quy mô 5.000 người dự kiến đăng ký Kỷ lục Guinness thế giới năm 2019; chuỗi sự kiện Hội chợ du lịch 8 tỉnh Tây Bắc, Festival dù lượn Khau Phạ, Lễ hội cốm Tú Lệ, tôn vinh chè tổ Suối Giàng - Sùng Đô; các tour kết nối đưa show diễn xòe Thái vào chương trình đón khách ban đêm tại Nghĩa Lộ.

Chương 3: Một số giải pháp nhằm khai thác múa xòe Thái tại Mường Lò, Yên Bái phục vụ cho phát triển du lịch tại Yên Bái

Tác giả đề xuất 5 nhóm giải pháp quản trị và khai thác cụ thể:

  1. Chú trọng công tác bảo tồn múa xòe Thái: Giữ gìn nguyên bản các làn điệu xòe cổ, ghi chép tư liệu hóa và tổ chức truyền dạy cho thế hệ trẻ qua các nghệ nhân bản địa.
  2. Tăng cường đưa múa xòe Thái vào các sự kiện và sản phẩm du lịch: Xây dựng các chương trình biểu diễn có kịch bản chuyên nghiệp hóa, lồng ghép trải nghiệm xòe vòng tương tác trực tiếp cho du khách tại các bản du lịch cộng đồng (Bản Sà Rèn, Nghĩa Lợi, Nghĩa An).
  3. Thu hút cộng đồng địa phương tham gia hoạt động du lịch: Đào tạo nguồn nhân lực làm du lịch có kỹ năng giao tiếp, ngoại ngữ; ban hành chính sách hỗ trợ tài chính, vay vốn ưu đãi cho các hộ dân đầu tư homestay và đội văn nghệ xòe.
  4. Cải thiện cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch: Nâng cấp hệ thống đường giao thông, mở rộng sân vận động phục vụ đại lễ hội, nâng cao chất lượng phòng nghỉ đạt chuẩn vệ sinh và tiện nghi.
  5. Đẩy mạnh công tác quảng bá, truyền thông: Tăng cường tiếp thị số, phối hợp với các doanh nghiệp lữ hành lớn (như Hòn Gai Tour), đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện hồ sơ đệ trình UNESCO công nhận di sản.

Kết quả và đóng góp

  • Hệ thống hóa toàn diện tư liệu văn hóa - nghệ thuật xòe cổ: Khóa luận đã mô tả chi tiết kỹ thuật động tác, nhịp điệu (2/4, 3/4, 4/4), thế chân (tin xắp, tin khoang, tin xệt, tin dống dông), đạo cụ (khăn piêu, chén rượu) và cấu trúc biểu diễn của toàn bộ 6 điệu xòe cổ Mường Lò được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận di sản quốc gia.
  • Cung cấp bức tranh thực trạng dữ liệu du lịch địa phương: Đề tài đã tổng hợp số liệu thực tế về du lịch thị xã Nghĩa Lộ giai đoạn 2015-2018 (đón 77.000 lượt khách, doanh thu dịch vụ 184 tỷ đồng năm 2018, hệ thống 135 cơ sở ăn uống và hơn 40 cơ sở lưu trú), phân tích rõ mô hình thực tế của các homestay tiêu biểu tại bản Sà Rèn.
  • Tính ứng dụng trong liên kết bảo tồn và phát triển: Nghiên cứu chỉ ra mối liên hệ trực tiếp giữa việc Yên Bái làm trưởng nhóm lập hồ sơ UNESCO với việc nâng cấp quy mô lễ hội (màn Đại xòe 5.000 người), từ đó đề xuất quy trình tích hợp di sản vào chuỗi giá trị du lịch (tour liên tỉnh Tây Bắc, lễ hội dù lượn, du lịch sinh thái - cộng đồng).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Số liệu thống kê trong khóa luận dừng lại ở giai đoạn 2018 - đầu năm 2019; các phân tích chủ yếu dựa trên phương pháp định tính và dữ liệu thứ cấp từ cơ quan quản lý, chưa thực hiện các cuộc khảo sát điều tra xã hội học bằng bảng hỏi đối với du khách để đo lường mức độ hài lòng hoặc chi tiêu thực tế cho dịch vụ múa xòe.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Khảo sát định lượng nhu cầu và mức độ sẵn sàng chi trả của du khách quốc tế đối với các show diễn nghệ thuật dân gian truyền thống tại Yên Bái.
    • Nghiên cứu giải pháp bảo tồn tính nguyên vẹn của xòe Thái trước nguy cơ thương mại hóa và biến dạng động tác khi phục vụ du lịch đại chúng.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Sinh viên và học viên chuyên ngành Quản trị Du lịch và Lữ hành, Việt Nam học, Văn hóa học, Dân tộc học.
    • Cán bộ quản lý văn hóa - du lịch tại thị xã Nghĩa Lộ, huyện Văn Chấn và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Yên Bái.
    • Các công ty lữ hành xây dựng tour văn hóa Tây Bắc tuyến Hà Nội - Nghĩa Lộ - Mù Cang Chải - Điện Biên.
  • Phần nội dung đáng tham khảo nhất: Tiểu mục mô tả chi tiết nguồn gốc, ý nghĩa và kỹ thuật múa của 6 điệu xòe cổ (Chương 2) cùng các phân tích về mô hình homestay du lịch cộng đồng tại bản Sà Rèn.

Câu hỏi thường gặp

1. Sáu điệu xòe cổ Mường Lò của người Thái được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia vào thời gian nào?

Sáu điệu xòe cổ của người Thái ở thị xã Nghĩa Lộ (Mường Lò), tỉnh Yên Bái được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Quyết định số 5079/QĐ-BVHTT&DL công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia vào ngày 27/12/2012.

2. Tên gọi và ý nghĩa của 6 điệu xòe cổ được mô tả trong khóa luận là gì?

Sáu điệu xòe cổ gồm:

  • Khắm khăn mơi lẩu: Nâng khăn mời rượu, biểu hiện nét văn hóa giao tiếp, lòng hiếu khách và tưởng nhớ tổ tiên.
  • Nhôm khăn: Tung khăn, thể hiện niềm vui mùa màng bội thu và thành quả lao động dệt thổ cẩm.
  • Đổn hôn: Tiến lùi, khẳng định ý chí vượt qua sóng gió và tình đoàn kết keo sơn.
  • Phá xí: Bổ bốn, mang triết lý âm dương ngũ hành và tinh thần hướng về nguồn cội.
  • Khắm khen: Nắm tay vòng tròn, điệu múa sơ khai gắn kết cộng đồng bản mường.
  • Ỏm lọm tốp mư: Vòng tròn vỗ tay, điệu kết thúc cuộc vui thể hiện sự bịn rịn chia tay.

3. Những nhạc cụ nào được đồng bào Thái Mường Lò sử dụng trong nghệ thuật múa xòe cổ?

Nhạc cụ sử dụng gồm bộ gõ, bộ hơi và bộ dây: trống, chiêng, khèn bè, tăng bẳng, mác hính, pí ló và pí pặp.

4. Kết quả kinh doanh du lịch của thị xã Nghĩa Lộ (Mường Lò) đạt được trong năm 2018 như thế nào?

Năm 2018, Nghĩa Lộ đón trên 77.000 lượt khách (tăng 18,5% so với năm 2017, vượt 2,7% kế hoạch HĐND), trong đó có 4.284 lượt khách quốc tế (chủ yếu từ Pháp, Mỹ, Canada). Doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống đạt 184 tỷ đồng (lưu trú đạt 19,2 tỷ đồng, ăn uống đạt 164,8 tỷ đồng).

5. Quy mô của màn Đại xòe tại Lễ hội Văn hóa - Du lịch Mường Lò năm 2019 được tác giả nêu ra là bao nhiêu?

Màn Đại xòe năm 2019 tại Sân vận động Thị xã Nghĩa Lộ được tổ chức với quy mô mở rộng lên tới 5.000 người gồm nhân dân địa phương, nghệ nhân và du khách tham gia, đồng thời gửi hồ sơ đăng ký tới Tổ chức Kỷ lục Thế giới (Guinness World Records).


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vũ Trung Kiên đã cung cấp một công trình khảo cứu công phu về nghệ thuật múa xòe Thái cổ tại vùng đất Mường Lò, tỉnh Yên Bái. Tác phẩm đã phân tích rõ nét cấu trúc văn hóa, giá trị nghệ thuật của 6 điệu xòe di sản và đánh giá trung thực hiện trạng hoạt động du lịch địa phương giai đoạn 2015-2018. Hệ thống 5 nhóm giải pháp được đề xuất mang tính đồng bộ, góp phần định hướng cho công tác bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể gắn liền với phát triển sản phẩm du lịch bền vững tại Yên Bái.