LỜI MỞ ĐẦU 1. L ý d o c h ọ n đ ề tà i Tăng trưởng kinh tể và thương mại luôn là động lực phát triển của ngành hàng hải nói chung và ngành khai thác dịch vụ cảng biển nói riêng.Năm 2011 - năm khởi đầu của kể hoạch 5 năm phát triển đất nước trong quá trình hội nhập sâu rộng với kinh tế thế giới. Nhìn lại 10 năm đầu của thế kỷ XXI, chúng ta thấy ngành hàng hải VN đã có những bước tiến dài khẳng định vai trò vị thế của mình trong nền kinh tế quốc dân. Những bước phát triển đó của ngành đã tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, góp phần vào sự tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân.
Hàng năm hàng hoá XNK của Việt Nam thông qua hệ thống cảng biển chiếm trên 92%. Cảng biển là điều kiện tiên quyết trong việc đầu tư xây dựng khu kinh tế, khu công nghiệp, nhà máy lọc hóa dầu, nhà máy xi măng, luyện thép, nhiệt điện, vật liệu xây dựng. Chủ trương lớn của Đảng về chiến lược biển đã mở rộng tầm nhìn, thay đổi nhận thức cũng như kế hoạch phát triển toàn ngành hàng hải nói chung và cũng như đối với tập thể cán bộ Công ty Cảng Đoạn Xá hoạt động trong lĩnh vực hàng hải nói riêng. Công ty đã tận dụng vị thế dọc theo bờ sông cấm dài khoảng 50km có rất nhiều cảng có thể cho phép tàu vào làm hàng.
Chính vì ưu thế này việc chọn kinh tế biển là một trong những hướng ưu tiên để phát triển. Ngành HHVN đang đứng trước cơ hội lớn vững bước đi lên. Để từng bước thực hiện thành công Nghị quyết Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 do Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã đề ra , với điều kiện tự nhiên và vị trí địa-chính trị hết sức thuận lợi, một trong những mục tiêu quan trọng của ngành Hàng hải là Việt Nam phải sớm trở thành căn cứ trung chuyển container quốc tế và là đầu mối phân phối hàng hóa quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu cùng dịch vụ Logistics chất lượng, hiệu quả - nhiệm vụ vẻ vang song cũng hết sức nặng nề. Ngành hàng hải Việt Nam cũng đang phải đứng trước nhiều thách thức, khó khăn rất lớn.
2 Những năm gần đây, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới thị trường xuất khẩu vào các nước như Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc. giảm đáng kể trong khi đó hàng hóa, sản phẩm dịch vụ của nước ta chưa cao, giá cả kém cạnh tranh, mẫu mã hậm đổi mới theo thị trường nên khả năng xuất khẩu bị hạn chế, điều này ảnh hưởng rất nhiều đến lượng hàng hóa xuất khẩu qua các Cảng biển Việt Nam Ngân hàng nhà nước liên tục thực hiện chính sách tiền tệ linh hoạt, giá cả các mặt hàng tăng cao, đồng thời tăng tỷ giá liên ngân hang giữa đồng USD so với VNĐ đã làm cho giá các mặt hàng nhập khẩu như xăng dầu, thiết bị tăng làm giá thành sản xuất tăng. Cơ sở hạ tầng như đường giao thông vẫn còn rất nhiều hạn chế, nhiều cầu cảng phía băc, nước nông, tàu không thể vào cập cảng, điều này ảnh hưởng rất lớn đên tình hình tăng doanh thu từ các dịch vụ trong cảng. Đe có thể đạt được những mục tiêu đã đề ra đòi hỏi bản thân từng cảng biển nói riêng và ngành hàng hải Việt Nam nói chung phải nỗ lực hết mình khắc phục những khó khăn, phát huy những điểm mạnh vốn có của mình, tạo tiềm lực vươn mình ra hòa nhập thế giớ i.
Cảng Đoạn Xá là một trong những cảng biển nằm trong hệ thống cảng Hải Phòng - được xếp vào cảng biển loại I.Cảng biển loại I là cảng biển đặc biệt quan trọng, có quy mô lớn phục vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc liên vùng. Trải qua hơn 10 năm hoạt động, công ty có vị thế vững chắc trong lĩnh vực xếp dỡ, giao nhận kho vận ngoại thương, có uy tín với khách hàng, tuy vậy cảng cũng vẫn chưa khai thác hết được tiềm năng của mình, chưa tận dụng hết năng lực cảng biển và mở rộng hơn nữa những dịch vụ mang lại giá trị cao như dịch vụ khai thuê hải quan, đại lý hàng hải. tiếp tục phát huy thế mạnh trong lĩnh vực khai thác và kinh doanh kho bãi, nâng cao vị thế của cảng trong vai trò là thuộc hệ thống cảng biển loại I. Những vấn đề mang tính cấp bách liên quan đến việc phát triển của Công Ty Cổ Phần Cảng Đoạn Xá, thương hiệu của một cảng biển tầm vóc quốc gia khiến cho 3 việc tìm ra những giải pháp nhằm nâng cao khai thác các dịch vụ cảng biển của Công Ty Cổ Phần Cảng Đoạn Xá trở nên vô cùng cần thiết.
Và đây chính là tiêu đề của luận văn: “K h a i t h á c d ịc h v ụ c ả n g b iể n t ạ i C ô n g t y c ổ p h ầ n C ả n g Đ o ạ n X á ” 2. M ụ c đ íc h n g h iê n c ứ u - Hệ thống hóa một số khái niệm về cảng biển và những dịch vụ cảng biển, dịch vụ hàng hải, phân loại cảng biển - Hệ thống số liệu về sản luợng dịch vụ cung cấp theo từng loại dịch vụ cảng biển, dịch vụ hàng hải tại Công Ty cổ Phần Cảng Đoạn Xá các năm 2006 - 2010. - Áp dụng các mô hình kinh tế để phân tích cơ cấu, sự tăng trưởng, của các dịch vụ khai thác cảng biển và dịch vụ hàng hải tại cảng Đoạn Xá - Hệ thống số liệu về nhân tố quy mô cơ sở vật chất kỹ thuật ảnh hưởng tới khai thác cảng biển: cơ sở vật chất kỹ thuật cảng biển, cơ sở hạ tầng kết nối với cảng biển , và nhân tố người lao động để đưa ra mức độ ảnh hưởng tới các dịch vụ mà Cảng Đoạn Xá cung cấp - Kiến nghị các giải pháp nhằm nâng cao năng lực khai thác hệ thống cảng biển tại Công ty cổ phần Cảng Đoạn Xá 3. Đ ố i tư ợ n g v à p h ạ m v i n g h iê n c ứ u Với nội dung như đã nêu trong đề tài, đối tượng nghiên cứu là cảng biển Việt Nam nói chung cũng như các hoạt động dịch vụ cảng biển đang diễn ra tại Cảng Đoạn Xá nói riêng.
Luận văn sẽ tập trung, đi sâu phân tích về việc khai thác các dịch vụ cảng biển của Công ty CP Cảng Đoạn Xá. Bởi trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu đề tài, xét thấy rằng nội dung đề tài sẽ được tiếp cận phân tích chủ yếu trên góc độ khai thác các dịch vụ cảng biển với số liệu lấy từ Công ty cố phần Cảng Đoạn Xá từ năm 2006 đến 2010. P h ư ơ n g p h á p n g h iê n c ứ u Đề tài sử dụng phương pháp phân tích số liệu, cách tiếp cận từ vĩ mô đến vi mô sử dụng số liệu về ngành hàng hải Việt Nam và số liệu về các dịch vụ tại Cảng Đoạn Xá. Từ đó đưa ra các giải pháp nâng cao năng lực khai thác các dich vụ cảng biển cho hệ thống cảng biển loại I tại Việt Nam nói chung.
K ế t c ấ u c ủ a ỉu ậ n v ă n Nội dung của luận văn ngoài lời mở đầu và kết luận gồm 3 chưcmg sau: Chương 1 : Những vấn đề chung về khai thác dịch vụ cảng biển. Chương 2: Thực trạng khai thác dịch vụ cảng biển tại Công ty cổ phần Cảng Đoạn Xá. Chương 3: Giải pháp khai thác dịch vụ cảng biển tại Công ty Co phần Cảng Đoạn Xá. 5 CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐÊ CHUNG VÈ KHAI THÁC DỊCH VỤ CẢNG BIỂN 1 .1 Khái niệm cảng biển Theo quan điểm mang tính kinh điển thì cảng biển là đầu mối giao thông lớn, bao gồm nhiều công trình và kiến trúc bảo đảm cho tàu thuyền ra vào và neo đậu yên ổn, các phương tiện vận tải nôi địa ra vào thuận lợi, nhanh chóng để thực hiện công việc tiếp chuyển hàng hóa và hành khách từ các phương tiện giao thông trên đất liền sang các tàu biển hoặc ngược lại; bảo quản và gia công hàng hóa, thực hiện các dịch vụ pháp luật cũng như dịch vụ chuyên ngành hàng hải và là nơi trú đậu của tàu thuyền khi gặp bão hoặc sự cố khẩn cấp.
Theo quan điểm hiện đại thì cảng biển được xem là nơi thu hút các hoạt động kinh tế, là điểm đầu mối của hoạt động vận tải. Theo quan điểm này thì cảng biển là khu vực tiếp nối giữa đất liền và biển, được phát triển thành một trung tâm công nghiệp và logistics, đóng vai trò quan trọng trong mạng lưới công nghiệp và logistics toàn cầu. Ngoài vai trò xếp dỡ hàng hóa (vai trò cơ bản) cảng còn thực hiện hoạt động trung chuyển đơn giẻ.n và logistics tạo giá trị gia tăng với khu hậu phương cảng tương đổi rộng lớn. Trong tương lai, cảng sẽ có khu hậu phương đủ lớn để phục vụ cho tất cả các hoạt dộng của các doanh nghiệp.
Như vậy, ngoài vai trò cơ bản, chuyển tải đơn giản và logistics tạo giá trị gia tăng cảng còn có vai trò của chuỗi kinh doanh. Lúc đó, hoạt động của cảng gắn liền với hoạt động của khu kinh tế mở, khu thương mại tự do, khu công nghiệp, khu chế xuất. Theo Bộ luật Hàng hải Việt Nam và Nghị định 71/2006/NĐ-CP, cảng biển, bến cảng và cầu cảng được quy định như sau: - “Cảng biển” là khu vực bao gồm vùng đất cảng và vùng nước cảng, được xây dựng kết cấu hạ tầng và lắp đặt trang thiết bị cho tàu biển ra, vào hoạt động để bốc dỡ hàng hóa, đón trả hành khách và thực hiện các dịch vụ khác. 6 Cảng biển có một hoặc nhiều bến cảng.
Bến cảng có một hoặc nhiều cầu cảng. Bên cảng bao gôm câu cảng, kho, bãi, nhà xưởng, trụ sở, cơ sở dịch vụ, hệ thống giao thông, thông tin liên lạc, điện, nước, luồng vào bến cảng và các công trình phụ trợ khác. Cầu cảng là kết cấu cố định thuộc bến cảng, được sử dụng cho tàu biển neo đậu bốc dỡ hàng hóa, đón, trả hành khách và thực hiện các dịch vụ khác. Kết cấu hạ tầng cảng biển bao gồm kết cấu hạ tầng bến cảng và kết cấu hạ tầng công cộng cảng biển.