chương 1 nhấn mạnh tầm quan trọng của kinh tế học vĩ mô, cũng như làm rõ mục tiêu của các chính sách quản lý vĩ mô của chính phủ. Đồng thời trong chương Khái quát về kinh tế học vĩ mô người đọc sẽ tiếp cận với những thuật ngữ căn bản, góp phần thuận lợi hơn khi nghiên cứu những chương sau. Khái niệm kinh tế vĩ mô Kinh tế học là môn học ra đời cách đây hơn hai thế kỉ. Từ đó đến nay, kinh tế học đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển và cũng đã xuất hiện nhiều định nghĩa khác nhau.
Định nghĩa thông dụng nhất, đó là: Kinh tế học là một môn khoa học nghiên cứu cách thức xã hội sử dụng các nguồn lực khan hiếm của mình. Người ta cho rằng, bản chất của kinh tế học là sự khan hiếm. Sự khan hiếm xảy ra khi các nguồn lực trong nền kinh tế không đủ để thỏa mãn nhu cầu của các chủ thể trong nền kinh tế đó. Bởi lẽ, nhu cầu của con người thì vô hạn mà các nguồn lực của nền kinh tế thì hữu hạn.
Từ cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp, chính phủ cho đến xã hội đều phải đối mặt với sự khan hiếm các nguồn lực. Trước hết, ta nói đến sự khan hiếm nguồn lực của cá nhân và các hộ gia đình. Đã là con người, ai cũng muốn có được một cuộc sống đầy đủ nhất, được hưởng thụ nhiều nhất. Thế nhưng, sự thỏa mãn những nhu cầu đó bị giới hạn bởi nhiều yếu tố như thời gian, thu nhập… Vì vậy, chúng ta cần phải phân bổ thời gian, thu nhập… một cách lợp lý nhất sao cho nhu cầu được thỏa mãn cao nhất.
Xã hội hay nền kinh tế của một quốc gia cũng luôn luôn phải đối mặt với sự khan hiếm các nguồn lực. Nguồn lực của nền kinh tế bao gồm : lao động, vốn, tài nguyên thiên nhiên… Tuy nhiên, tất cả các nguồn lực này đều khan hiếm. Vì vậy, nền kinh tế phải tìm cách phân bổ các nguồn lực sao cho nhu cầu của các chủ thể trong nền kinh tế được thỏa mãn cao nhất. Kinh tế học nghiên cứu: cách thức con người ra quyết định, cách thức con người tác động qua lại lẫn nhau và nghiên cứu phân tích các xu hướng, các lực lượng ảnh hưởng tổng thể đến nền kinh tế.
Như vậy, kinh tế học quan tâm đến hành vi của toàn bộ nền kinh tế tổng thể và hành vi của các chủ thể kinh tế riêng lẻ trong nền kinh tế, bao gồm các doanh nghiệp, các hộ tiêu dùng, người lao động và chính phủ. Mỗi chủ thể kinh tế đều có mục tiêu tối cao để hướng tới, đó là mục tiêu tối đa hóa các lợi ích kinh tế của họ. Mục tiêu của các doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận, mục tiêu của các hộ tiêu dùng là tối đa hóa ích lợi khi tiêu dùng và mục tiêu của chính phủ là tối đa hóa phúc lợi xã hội. Kinh tế học có nhiệm vụ giúp các chủ thể kinh tế giải quyết các bài toán tối đa hóa lợi ích kinh tế này.
1 Kinh tế học được chia thành hai nhánh chính, đó là : Kinh tế học vi mô và Kinh tế học vĩ mô. Kinh tế học vi mô nghiên cứu cách thức ra quyết định của từng hộ gia đình và từng doanh nghiệp cũng như sự tác động qua lại lẫn nhau giữa họ trên các thị trường cụ thể. Trong khi đó, Kinh tế vĩ mô nghiên cứu phương thức hoạt động của toàn bộ nền kinh tế dưới góc độ tổng thể, nó mang tính tổng quát bao trùm. Kinh tế học Vi mô và Kinh tế học vĩ mô có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Bởi vì, một nền kinh tế là tập hợp các bộ phận riêng lẻ, bao gồm hộ gia đình và doanh nghiệp. Hành vi và hoạt động của tất cả các bộ phận riêng lẻ này sẽ hình thành nên sắc thái của nền kinh tế, tức là vấn đề vi mô ảnh hưởng đến vĩ mô. Và ngược lại, nếu một trong số các vấn đề vĩ mô thay đổi cũng sẽ làm ảnh hưởng đến các bộ phận riêng lẻ kia, tức là vấn đề của vĩ mô ảnh hưởng đến vi mô. Các vấn đề nghiên cứu của kinh tế học vĩ mô Kinh tế học vĩ mô quan tâm đến nhiều vấn đề.
Trong thực tế, những người nghiên cứu kinh tế học vĩ mô có những quan điểm khác nhau. Tuy nhiên, có ba vấn đề mà không một nhà kinh tế học nào cũng như không một cuốn sách nào nói về kinh tế vĩ mô không nhắc đến đó là sản lượng quốc gia, lạm phát và thất nghiệp. Sản lượng quốc gia: Sản lượng quốc gia chính là tổng giá trị thị trường của tất cả các hàng hóa và dịch vụ cuối cùng mà công dân một nước sản xuất ra trong một thời kì nhất định. Sản lượng quốc gia là một trong những chỉ tiêu quan trọng được quan tâm hàng đầu.
Nó không chỉ phản ánh khả năng sản xuất hàng hóa dịch vụ mà còn phản ánh và có ảnh hưởng đến mức sống của dân cư cũng như tăng trưởng kinh tế của quốc gia đó. Sản lượng quốc gia và sự thay đổi của chỉ tiêu này sẽ tiếp tục được nghiên cứu kĩ hơn trong các chương sau. Lạm phát: Là sự tăng lên liên tục của mức giá chung trong nền kinh tế. Lưu ý rằng, khi nghiên cứu nền kinh tế ở góc độ tổng thể thì mức giá ở đây không phải là của một hàng hóa hay dịch vụ nào cụ thể như kinh tế học vi mô mà giá ở đây là mức giá hay mặt bằng giá chung của nền kinh tế được thể hiện thông qua các chỉ số giá như CPI hay GDPd… Tỉ lệ lạm phát là một trong những chỉ tiêu phản ánh trạng thái hoạt động của nền kinh tế.
Rất nhiều người cho rằng, nền kinh tế có lạm phát đồng nghĩa với nền kinh tế hoạt động không tốt. Điều này không hoàn toàn đúng, bởi lẽ lạm phát là tốt hay xấu còn phụ thuộc vào việc tỉ lệ lạm phát là cao hay thấp. Như vậy, tại sao nền kinh tế có lạm phát? Lạm phát ảnh hưởng đến nền kinh tế như thế nào? Tỉ lệ lạm phát là bao nhiêu thì sẽ gây ra tác động xấu đến nền kinh tế? Và khi lạm phát quá cao thì có biện pháp nào để kiềm chế lạm phát hay không? Tất cả những câu hỏi trên, chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu và lí giải trong những chương sau. Thất nghiệp: 2 Thất nghiệp là cụm từ dùng để chỉ tình trạng những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, đang tìm việc và không có việc làm.
Tình trạng thất nghiệp của nền kinh tế được thể hiện thông qua tỉ lệ thất nghiệp. Tỉ lệ thất nghiệp cao có nghĩa là nhu cầu sử dụng lao động thấp, nền kinh tế hoạt động không hiệu quả. Ngược lại, nếu tỉ lệ thất nghiệp thấp tức là nền kinh tế đang hoạt động tốt làm cho nhu cầu lao động tăng. Trong ngắn hạn, giữa thất nghiệp và lạm phát có mối quan hệ tỉ lệ nghịch.
Để giảm lạm phát, nền kinh tế phải chấp nhận việc tỉ lệ lạm phát tăng và ngược lại. Vậy thì trong dài hạn mối quan hệ đó như thế nào? Làm thế nào để đo lường thất nghiệp? Thất nghiệp ảnh hưởng như thế nào đến nền kinh tế? Và có những biện pháp nào để hạn chế thất nghiệp. Chúng ta sẽ cùng tìm hiểu sâu hơn những vấn đề này trong các chương sau. Các công cụ điều tiết vĩ mô của chính phủ Thông thường, chính phủ sẽ can thiệp vào nền kinh tế bằng cách sử dụng những công cụ trong bốn nhóm chính sách phổ biến, đó là chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ, chính sách kinh tế đối ngoại (chính sách ngoại thương) và chính sách thu nhập.
Chính sách tài khóa: Khi chính phủ áp dụng chính sách tài khóa, điều đó có nghĩa là chính phủ sẽ thay đổi mức chi tiêu của chính phủ, thay đổi mức thuế hay mức trợ cấp. Chính sách tiền tệ: Là việc quản lí cung tiền, lãi suất thông qua ngân hàng trung ương. Chính sách ngoại thương: Trong chính sách ngoại thương, chính phủ sẽ tác động đến các hoạt động ngoại thương thông qua các chính sách thương mại bao gồm thuế quan và các hàng rào phi thuế quan như hạn ngạch (quota), hạn chế xuất khẩu tự nguyện… Chính sách thu nhập: Có nghĩa là chính phủ muốn bình ổn lạm phát của nền kinh tế một cách trực tiếp thông qua việc kiểm soát chính sách về tiền lương, giá cả của các hàng hóa, dịch vụ trong nền kinh tế. Mục tiêu của nền kinh tế vĩ mô Mỗi quốc gia trong mỗi thời kì đều có những mục tiêu cụ thể.
Nhìn chung có năm mục tiêu sau mà quốc gia nào cũng hướng đến. Mục tiêu hiệu quả Bất kì quốc gia nào, nền kinh tế nào cũng phải đối mặt với sự khan hiếm nguồn lực. Cho nên, một trong những mục tiêu quan trọng của nền kinh tế là làm cách nào để phân bổ và sử dụng các nguồn lực khan hiếm một cách có hiệu quả nhất. Chúng ta biết rằng, sự hiệu quả khi nền kinh tế sử dụng nguồn lực được biểu diễn bằng sự kết hợp hàng hóa nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất.
3 * Khái niệm: Đường giới hạn khả năng sản xuất PPF (Production Posibility Frontier) là đường tập hợp các phương án sản xuất mà nền kinh tế có thể đạt được khi sử dụng hết các nguồn lực hiện có. * Cách dựng: Giả sử nền kinh tế chỉ sản xuất 2 loại hàng hóa đó là lúa và vải: Bảng 1. Những khả năng thay thế khác nhau Phương án sản xuất Vải Lúa Lao động Sản lượng Lao động Sản lượng A 0 0 5 300 B 1 5 4 280 C 2 9 3 240 D 3 12 2 180 E 4 14 1 100 F 5 15 0 0 Từ đó ta xây dựng được đường PPF (Production Posibility Frontier) Đồ thị 1. Đường PPF của nền kinh tế chỉ sản xuất lúa và vải Lúa 300 A 280 B C 240 Đường PPF 180 100 5 9 12 14 15 Vải *Ý nghĩa: - Những phương án nằm ngoài đường PPF là không thể thực hiện được vì không đủ nguồn lực.
- Những phương án nằm trong đường PPF là không hiệu quả vì không sử dụng hết nguồn lực. 4 Theo thời gian, số lượng các yếu tố sản xuất và công nghệ có thể thay đổi, nên bản thân đường giới hạn khả năng sản xuất cũng có thể dịch chuyển ra ngoài hoặc vào trong. - Nếu có sự di chuyển từ điểm này sang điểm khác trên PPF là việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế.