Chương 1. Cơ sở lý thuyết về thương hiệu và mức độ nhận diện thương hiệu của khách hàng Chương 2. Đánh giá mức độ nhận diện thương hiệu Sản phNm OCOP -Hương Sạch Tân N guyên của khách hàng trên địa bàn Thành Phố Huế Chương 3. Định hướng và giải pháp nhằm nâng cao mức độ nhận diện thương hiệu Sản phNm OCOP - Hương Sạch Tân N guyên SVTH: Lê Tuấn Kiệt 8 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS N guyễn Đăng Hào PHẦ II: ỘI DU G VÀ KẾT QUẢ GHIÊ CỨU CHƯƠ G 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THƯƠ G HIỆU VÀ MỨC ĐỘ HẬ DIỆ THƯƠ G HIỆU CỦA KHÁCH HÀ G 1.
Thương hiệu và mức độ nhận diện thương hiệu 1. Thương hiệu 1. Khái niệm thương hiệu Từ thương hiệu (Brand) có nguồn gốc từ chữ Brandr, theo tiếng Aixơlen cổ nghĩa đóng dấu. Xuất phát từ thời xa xưa khi những chủ trại muốn phân biệt những đàn cừu của mình với những đàn cừu khác, họ đã dùng một con dấu bằng sắt nung đỏ đóng lên lưng từng con một, thông qua đó khẳng định giá trị hàng hóa và quyền sở hữu của mình.
N hư thế, thương hiệu xuất hiện từ nhu cầu tạo ra sự khác biệt cho sản phNm của nhà sản xuất. N gày nay, có rất nhiều quan điểm cũng như định nghĩa về thương hiệu. Đến đầu thế kỷ XIX, theo tự điển Oxford, từ “brand” đã mang nghĩa là dấu hiệu của nhãn hiệu thương mại. Vào giữa thế kỷ XX, từ “brand” phát triển rộng ra để bao gồm cả hình ảnh về một sản phNm được ghi lại trong tâm trí người tiêu dùng tiềm năng hoặc cụ thể hơn là quan niệm về một người hay một vật nào đó.
N gày nay, “brand” được hiểu là tổng hòa tất cả các thông tin về một sản phNm, dịch vụ hay một công ty được truyền đạt tới đối tượng mục tiêu bằng tên gọi hay các dấu hiệu nhận diện khác, như logo hoặc hình tượng. Một số khái niệm về thương hiệu: Theo Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ (AMA) thương hiệu là “một cái tên, từ ngữ, ký hiệu, biểu tượng hoặc hình vẽ kiểu thiết kế,. hoặc tập hợp của các yếu tố trên nhằm xác định và phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của một người bán hoặc nhóm người bán với hàng hóa và dịch vụ của các đối thủ cạnh tranh”. Theo tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO): Mặc dù thuật ngữ “thương hiệu” đôi khi được sử dụng như một từ đồng nghĩa của “nhãn hiệu” trong lĩnh vực thương mại, nhưng nó thường được sử dụng theo nghĩa rộng hơn bao gồm sự kết hợp của các yếu tố hữu hình và vô hình, chẳng hạn như một nhãn hiệu, một thiết kế, biểu tượng, hình SVTH: Lê Tuấn Kiệt 9 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS N guyễn Đăng Hào ảnh thương mại, khái niệm, ảnh và danh tiếng mà các yếu tố đó liên quan tới các sản phNm dịch vụ cụ thể.
Một số chuyên gia coi bản thân hàng hóa hoặc dịch vụ là một phần của thương hiệu. Theo Amber & Styles (1996) thì thương hiệu là một tập hợp các thuộc tính cung cấp cho khách hàng mục tiêu các giá trị mà họ đòi hỏi. Thương hiệu theo quan điểm này cho rằng, sản phNm chỉ là một thành phần của thương hiệu, chủ yếu cung cấp lợi ích chức năng cho khách hàng và nó chỉ là một thành phần của sản phNm và các thành phần marketing hỗn hợp (sản phNm, giá cả, phân phối và chiêu thị) cũng chỉ là các thành phần của một thương hiệu. Đối với pháp luật Việt N am không có khái niệm thương hiệu mà chỉ có khái niệm nhãn hiệu.
Theo điều 4, Khoản 16, Luật sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 ngày 29/11/2005 “nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức cá nhân khác nhau”. N hìn chung, có hai quan điểm về sản phNm và thương hiệu: (1) Thương hiệu là thành phần của sản phNm, (2) Sản phNm là thành phần của thương hiệu. Trong đó, quan điểm thứ hai ngày càng được nhiều nhà nghiên cứu và thực tiễn chấp nhận. Lý do là khách hàng có hai nhu cầu: nhu cầu về chức năng (functional needs) và nhu cầu về tâm lý (psychological needs).
Sản phNm chỉ cung cấp cho khách hàng lợi ích chức năng và thương hiệu mới cung cấp cho khách hàng cả hai (Hankinsom, G. Thương hiệu là một thành phần Sản ph m là một thành của sản ph m phần của thương hiệu Thương hiệu SẢN PHẨM Thương hiệu Sản phẩm Sơ đồ 1.1 - Sản ph m và thương hiệu ( guyễn Đình Thọ và guyễn Thị Mai Trang (2002, trang 6) SVTH: Lê Tuấn Kiệt 10 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS N guyễn Đăng Hào 1. Thành phần của thương hiệu Theo quan điểm sản phNm là một thành phần của thương hiệu đã nói trên, thương hiệu là một tập các thành phần có mục đích cung cấp cả lợi ích chức năng và lợi ích tâm lý cho khách hàng mục tiêu. N hư vậy, thương hiệu có thể bao gồm: Thành phần chức năng: thành phần này có mục đích cung cấp lợi ích chức năng của thương hiệu cho khách hàng mục tiêu và nó chính là sản phNm.
N ó bao gồm các thuộc tính mang tính chức năng (functional attributes) như công dụng sản phNm, các đặc trưng bổ sung (feraters), chất lượng Thành phần cảm xúc: thành phần này bao gồm các yếu tố giá trị mang tính biểu tượng nhằm tạo cho khách hàng mục tiêu những lợi ích tâm lý. Các yếu tố này có thể là nhân cách thương hiệu, biểu tượng, luận cứ giá trị hay còn gọi là luận cứ bán hàng độc đáo, gọi tắt là USP (unique selling proposition), vị trí thương hiệu đồng hành với công ty như quốc gia với xuất xứ, công ty nội địa hay quốc tế,… Thành phần cảm xúc: thành phần này bao gồm các yếu tố giá trị mang tính biểu tượng nhằm tạo cho khách hàng mục tiêu những lợi ích tâm lý. Các yếu tố này có thể là nhân cách thương hiệu, biểu tượng, luận cứ giá trị hay còn gọi là luận cứ bán hàng độc đáo, gọi tắt là USP (unique selling proposition), vị trí thương hiệu đồng hành với công ty như quốc gia với xuất xứ, công ty nội địa hay quốc tế,… Lối sống Thương hiệu Khách hàng Nhu cầu chức năng Thuộc tính chức năng Nhu cầu tâm lý Thuộc tính tâm lý Ngân sách Sơ đồ 1.2 : Thành phần của thương hiệu (Hankinson, G., 1996) SVTH: Lê Tuấn Kiệt 11 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS N guyễn Đăng Hào 1. Cấu tạo của thương hiệu Theo Lê Anh Cường và cộng sự (2003), một thương hiệu có thể được cấu tạo bởi hai phần: Phần phát âm được: là những yếu tố có thể đọc được, tác động vào thính giác của người nghe như tên công ty (Unilever), tên sản phNm (Dove), câu khNu hiệu ( âng niu bàn chân Việt), đoạn nhạc đặc trưng và các yếu tố phát âm được khác Phần không phát âm được: là những yếu tố không đọc được mà chỉ có thể cảm nhận được bằng thị giác như hình vẽ, biểu tượng (ví dụ hình lưỡi liềm của hãng ike), màu sắc (màu đỏ của Coca-cola), kiểu dáng thiết kế, bao bì (kiểu chai nước khoáng Lavie) và các yếu tố nhận diện khác.
Đặc điểm của thương hiệu Thương hiệu có một số đặc điểm sau: Thứ nhất, thương hiệu là một loại tài sản vô hình, có giá trị ban đầu bằng không. Giá trị của nó được hình thành lớn dần do sự đầu tư vào chất lượng sản phNm và phương tiện quảng cáo. Thứ hai, thương hiệu là tài sản thuộc sở hữu của doanh nghiệp, nhưng lại nằm ngoài phạm vi của doanh nghiệp và tồn tại trong tâm trí người tiêu dùng. Thứ ba, thương hiệu là tài sản có giá trị tiềm năng, không bị mất đi vì sự thua lỗ của công ty.
Thứ tư, thương hiệu được hình thành dần qua thời gian nhờ nhận thức của người tiêu dùng khi họ sử dụng những nhãn hiệu mình yêu thích, tiếp xúc với các hệ thống các nhà phân phối, và qua quá trình tiếp nhận thông tin về sản phNm. SVTH: Lê Tuấn Kiệt 12 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS N guyễn Đăng Hào 1. Phân biệt thương hiệu và nhãn hiệu hàng hóa Bảng 1.1: Phân biệt thương hiệu và nhãn hiệu hàng hóa THƯƠ G HIỆU HÃ HIỆU Thương hiệu gắn liền với “phần hồn”, gắn N hãn hiệu là “phần xác” liền với uy tín, hình ảnh công ty Hiện diện trong tâm trí khách hàng Hiện diện trên văn bản pháp lý Doanh nghiệp xây dựng và khách hàng Doanh nghiệp tự hoặc thuê thiết kế và công nhận đăng ký, cơ quan sở hữu trí tuệ công nhận Do các nhà quản trị thương hiệu và Do luật sư đảm nhận đăng ký và bảo vệ marketing đảm nhận Được xây dựng dựa trên hệ thống tổ chức của công ty, thông qua công ty nghiên cứu thịĐược xây dựng trên hệ thống về nhãn hiệu, trường, các hoạt động truyền thông thông qua các định chế về pháp luật marketing (Dương gọc Dũng và Phan Đình Quyền, 2004) Theo Điều 785 Bộ luật Dân sự nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt N am thì “N hãn hiệu hàng hóa là những dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ cùng loại của các cơ sở SXKD khác nhau. N hãn hiệu hàng hóa có thể là từ ngữ, hình ảnh hoặc sự kết hợp của các yếu tố đó được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc”.
Chức năng của thương hiệu Theo N guyễn Quốc Thịnh và N guyễn Thành Trung (2003), thương hiệu có các chức năng sau: 1. Chức năng nhận diện và phân biệt thương hiệu Đây là chức năng rất đặc trưng và quan trọng của thương hiệu. Có thể nói chức năng gốc của thương hiệu là phân biệt và nhận diện. Khả năng nhận diện được của thương hiệu là yếu tố quan trọng không chỉ cho người tiêu dùng mà còn cho cả doanh nghiệp trong quản trị và điều hành hoạt động của doanh nghiệp.
Thông qua thương hiệu, người tiêu dùng và nhà sản xuất có thể dễ dàng phân biệt và nhận diện hàng hóa của doanh nghiệp này với các doanh nghiệp khác. Tập hợp các dấu hiệu của thương hiệu SVTH: Lê Tuấn Kiệt 13 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS N guyễn Đăng Hào (tên hiệu, biểu trưng, biểu tượng, khNu hiệu hoặc kiểu dáng đặc biệt của hàng hóa và bao bì,.) chính là căn cứ để nhận diện và phân biệt. Thương hiệu cũng đóng vai trò rất tích cực trong phân đoạn thị trường của doanh nghiệp. Mỗi hàng hóa mang thương hiệu khác nhau sẽ đưa ra những thông điệp khác nhau dựa trên những dấu hiệu nhất định nhằm đáp ứng những kỳ vọng và thu hút sự chú ý của những tập khách hàng khác nhau.