ĐẶT VẤN ĐỀ ~ Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật thì tốt độ công nghiệp hoá, đô thị hoá, đã làm xuất hiện hàng loạt các nhà máy, xí nghiệp ở các nước, nó đã tác động mạnh mẽ đến môi trường (không khí, đất, nước ), làm cho môi trường ngày càng ô nhiễm trầm trọng. Day là một trong những vấn dé cấp bách mang tính toàn cầu. Trong đó, ô nhiễm nguồn nước đã và đang thu hút sự quan tâm, chú ý của các nước, vì nó cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến ô nhiễm môi trường đất, không khí, làm ảnh hưởng đến sức khoẻ của nhân loại. Đặc biệt là ở các thành phố lớn, các khu công nghiệp thì vấn dé 6 nhiễm càng nghiêm trọng hơn.
Cũng như các thành phố lớn trên thế giới, thành phố Hỗ Chí Minh là một trung tâm kinh tế, văn hoá, thương mại lớn nhất trong cả nước, là nơi tập trung dân cư đông nhất của nước ta, cùng với sự phát triển của các khu công nghiệp, khu chế xuất, các nhà máy, xí nghiệp, các cơ sở sản xuất lớn, nhỏ. Do vậy, lượng nước thải sinh hoạt và công nghiệp thải ra rất lớn (khoảng 45000 mỶ/ ngày), hấu hết lượng nước thải này chưa qua khâu xử ly mà thải trực tiếp ra môi trường ở các kênh, rạch trong thành phố. Vì thế các kênh, rạch tronh thành phố đều bị ô nhiễm nặng, với hàm lượng các chất hữu cơ và hàm lượng các hoá chất vượt quá mức cho phép hàng chục lan, làm cho nước ở các kênh, rạch có màu đen, mùi thối làm ảnh hưởng đến sức khoẻ của người dân, đặc biệt là dân cư sống trên lưu vực của các kênh, rạch này. Trước những bức xúc ấy, lãnh đạo thành phố đã và đang tập trung vào vấn để xử lý ô nhiễm ở các kênh rạch.
Tronh đó kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè là mối quan tâm hàng đầu của ban lãnh đạo thành phố. Với dự án vay vốn NGÂN HÀNG THẾ GIỚI đã được Chính phủ phê duyệt và được ODA đồng ý cho vay vốn nhằm xử lý ô nhiểm kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè bằng biện pháp sinh học. Biện pháp sinh học với ưu điểm không gây mất cân băng sinh thái, tránh tái 6 nhiễm,. đã và đang được nhiều nước trên thế giới áp dụng.
Trong xử lý nước thải bằng biện pháp sinh học thì tảo bậc thấp là một đối tượng rất quan trọng tham gia xử lý nước thải. Trong các ngành tảo (tảo Lục, tảo Lam, tảo Mắt, tảo Silic,.) thì tảo Mắt có tham gia xử lý không? Nếu có thì các loài tảo Mắt nào tham gia xử lý? Để trả lời cho những câu hỏi này, chúng tôi đã thực hiện công trình nghiên cứu với đề tài: Điều tra, phân lập và thử nghiệm khả năng xử lý nước thải của ngành Tảo Mắt ở kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè thành phố Hỗ Chí Minh. Nhung do hạn chế vé chuyên môn, thời gian và diéu kiện nghiên cứu nên không tránh khỏi những sai sốt, kính mong quý Thay, Cô cảm thông đóng góp ý kiến giúp em rút kinh nghiệm. 2SNL-TOFA3HDUMđIWE 3ÁQAr4X NS¥Ace=os- 1- U@ft NTnỦợ.
YRHOIEy⁄ > ế~LHNỊ eRYD wa†“Y0DOedUt2:T] Ũ Oar Fi odn tét Phần II TONG LUAN TINH HINH 0 NHIEM NGUON NUGC DO NUGC THAI CONG NGHIEP VA NUGC THAI SINH HOAT TREN THE GIGI I. Tình hình lới ; - Tổng trữ lượng nước trên thế giới là 1,5 tỷ km’, trong đó: + Nước ngọt là 32 triệu km” (Kali min — 1968). + Nước có ích không quá 3 triệu km’. + Nước sông: 1200 km”.
+ Nước sinh hoạt chiếm 6% tổng lượng nước chỉ dùng trên thế giới. + Lượng nước ngầm tăng 35 lần so với 30 năm trước. - Hầu hết các nước đều dùng nước bể mặt: Anh 2/3 nước cần dùng là nước bể mặt :ở Mỹ là 3/4 ; ở Nhật là 90%; Cộng Hoà Liên Bang Đức , Hà Lan là 100% nước ngầm (do nước bể mặt đã bị ô nhiễm bẩn). Nhìn chung: hiện nay nước bề mặt đang bị 6 nhiễm nặng.
Tình hình ô nhiễm trên thế giới : 1, Các nguồn gây ô nhiễm: - Nước thải công nghiệp dau hod. - Nước thải công nghiệp hoá chất. - Ô nhiễm phóng xạ. - Ô nhiễm nước thải thành phố.
- Ô nhiễm sinh học. Trong các nguồn nước gây ô nhiễm thì ô nhiễm sinh học và ô nhiễm nước thải là hai nguyên nhân chính dẫn đến ô nhiễm thủy vực tại các hệ thống sông ngoài và kênh, rạch ở nhiều nước cũng nhưở Việt Nam._Ô nhiễm nước thải thành phố: (nước thải công nghiệp và sinh hoạt) Nước thải sinh hoạt thành phố gồm ba nhóm hữu cơ chính: hydrat cacbon, protein, lipip. SOT: Bal Chị hủy Quang 3 Ũ Oda Tuyen cán tố? © Trong nhóm protein gốm những nhóm chất cao phân tử (15.(Kx)), Dưới tác dụng của các enzyme do vi khuẩn tiết ra, những chất này bị thủy phân tạo ra các mono acid và các amid. Lúc đấu là những chất phức tạp.
sau đó đến alanin được vi sinh vật hấp thy dé. Sản phẩm cuối cùng của sự phân hủy protid là nits khoáng ở dạng ammonia. Trong tự nhiên protein bị phân hủy dưới tác dụng của protease do một số vi khuẩn tiết ra Những chất bén vững như các chat min khi bị thủy phân cho ta các mono, di amino acid và các chất amid. Những chất do vi sinh vật thải ra ngoài môi trường mà đáng chú ý hơn cả là những hyp chất đã bị khử như NH;, sulfur hydro (H;S), sulfit hữu cd trong đó có mercaptan gây mùi thối.
Trong nước tiểu của người có khoảng 2 4% ure, 0,04% acid uric (CsHsN,O)), 0,1% acid hipuric (CyHyNO}). Các chất này được phân giải trong thủy vực : CO(NHg); + HO = CO; + 2NH,. Acid hipuric CJHJNO, + H:O = C-H,O:› + CH;NH;COOH. Acid benzosc Glycocol CH:NH;COOH +3H;O = 3CH, + SCO, + 4NH.
Trong điều kiện có không khí những chất chứa nitơ biến đổi tiếp tục đến nitrit rồi nitrat. Ý nghĩa của quá trình này là làm thiếu oxi trong thủy vực (X. ® Hydrat cacbon được các vi sinh vat sử dụng. Quá trình này xảy ra nhanh nhất là đối với các đường đơn.
Trong điều kiện yếm khí: C,H;;O, = 3CH;COOH + 34 Cai. (Acw acetic) CH,;COOH =CH,+CO, Đầu nguồn nước thải vi sinh vật hiếu khí nhiều, cuối nguồn ít. (C,2H,¿O¿);x„, Tinh bột } Sacharose (C4H,O‹)xvx, Cellulos Mantose (C;;H›:O, » CysH»O,, + O; = C,H, ,0, + CH,:O, Glucose Fructose Sau đó các đường đơn chuyển thành rượu, ví dụ như butylic C,H JOH. SOUTH: Bài Thi Thay Joang4 Goro: fan Chuyên oda ts e Lipip: phân hủy thành glycerin và các acid béo.
Những acid béo nay tiếp tue biến đổi tạo ra các acid đơn giản hơn, một số trong chúng có mùi ôi như acid valerie (CH;):CH;CH;CH:;COOH. Thực và động vật chết cũng biến thành chất min nước và CO;. Chất min nước đó là sản phẩm ngưng tụ của các hợp chất thom phenol, sản phẩm phân hủy protein và polisaccharic. Chất mon bén vững lắng đọng xuống đáy hổ.
sau một thời gian phân hủy yếm khí tạo thành các acid béo, Các acid béo phân giải tiếp cho CH, va CO;. Những chất hữu cơ chứa phospho (như protit) bị thối rửa tạo ra acid phosphoric. Acid này kết hợp với Ca, Mg, Fe, AI để thành lập các hợp chất khó hoà tan là di, trị, tetra phosphat. Những chất này nhờ vi khuẩn cấu tạo acid chuyển thành monophosphat được thực vật hấp thụ.
Như vậy, quá trình chuyển hoá các chất hữu cơ trong nước thải là những quá trình hoá học và xinh học phức tạp do sự thay đổi hoá trị của các nguyên tố tham gia phản ứng. Nghĩa là nó thuộc các phản ứng oxi hoá - khử. hiệm ¡ công nghiệp: * Công nghiệp hoá chất : Trong công nghiệp hoá chất cơ bản, sản xuất acid sulfuric là quan trọng nhất, độc là do độ acid tăng lên. + Ở Mỹ hằng năm công nghiệp chế tao thải ra 50 km” nước thải.
+ Ở Đức công nghiệp thải ra 10 km/näm. + Hàng năm cả thé giới đổ vào biển 4000 — 5000 tấn thủy ngân, lượng này ngày càng tăng nhanh. + Hàm lượng TEP (teưaetyl chì (C;H;)¿Pb) cho phép trong nước thải không vượt quá 0,1 mg/l. Ở nước ta lượng thủy ngân trong nước thải nhà mấy bột ngọt, nhà máy sản xuất xút bằng điện cực thủy ngân quá cao (3,65 mg/l - 6,8 mg/l), vượt qua ngưỡng cho phép hàng ngàn lần (nông độ cho phép là 0,005 mg/1).
* Công nghiệp sản xuất giấy và cellulose: Gồm một số chất độc sau: - Hydro sulfur natri (NaHS) 0.5 mg/l: là độc; Dihydro sulfur (HS) | mg/l: độc ; Phenol (C,H,OH) | - 10 mg/l: độc : Para 0,6 mg/l: độc ; Opto | mg/l : độc. - Cyamid là một trong những chất thải cực kì độc, cá bị nhiềm cyamid thi mang đỏ rực lén. * Công nghiệp dâu hoả: Trong quá trình khai thác, các sự cố trong vận chuyển, xả nước thải công nghiệp dấu hod làm tăng hàm lượng dấu ở các dai dương tăng lên SOTH: Bal Thi Chủ Quang 5 Ngành công nghiệp này cắn một lượng nước rất lớn, các chất lắng đọng ít, phần lớn là các chất lở lửng, bền vững với hoá chất và tác động của vi khuẩn. Mùi rất mạnh, rất lâu mất mùi, quá trình oxy hoá trong các ao hỗ sinh học diễn ra chậm.
*Tình hình xử lí nước thải công nghiệp : Trong nước thải công nghiệp bao giờ cũng có chứa một số chất lơ lững ở thể rắn. Trong nước thải chế biến dâu, luyện kim có mỡ và dầu khó tách. Sản xuất quặng khoáng, than, than bùn, những nhà máy làm giàu quặng bằng phương pháp thủy chế, nhà máy chế biến da, tinh bột, rượu bia, giấy, đổ hộp đều chứa nhiều chất hữu cơ. Người ta để lắng đọng nước đứng yên hoặc quay vòng tròn nhẹ.
Cặn lớn thì dùng lưới để lục. Ở Anh dùng sulfat nhôm để tách chất lơ lững, người ta còn sử dụng một số chất bổ sung khác như : Ứng dụng sản phẩm kỹ thuật tương đối rẻ tiền chứa một ít hỗn hợp muỗi sắt là phương pháp rất hiệu quả để tách phẩn lớn các chất lơ lững (X. * Nguyên nhân gây 6 nhiễm sinh học : Do các loài tảo nở hoa và tiết chất độc, đặt biệt là tảo Lam. Có khoảng 20 loài chứa độc tố, bản chất hoá học của các độc tố là peptid, alcaloid, phenol,.
Một số độc tổ di được xác định ở 7 giống nước ngọt và 2 giống ở biển (L. Kozin và Kaia - 1988) gồm: - VFDF: Ký hiệu chất độc do Anabaena flos-aquae tiết ra. FDF: (yếu tố gây chết nhanh - fast deadth factor) do tảo Lam tiết ra. FDF làm chết các sinh vật kể cả người, trâu, bò (từ vit).
- Hai loài Microcystis được tìm thấy tạo ra chất ngoại tế bào làm chết cá ăn muỗi.