chương 1tác giả nêu lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và kết cấu của luận văn. 6 CHƯƠNG 2 LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG VÀ SỰ TIẾP CẬN TÍN DỤNG CỦA NÔNG HỘ 2. Lý thuyết về tiếp cận tín dụng của nông hộ 2. Các khái niệm - Tín dụng xuất phát từ chữ La-tinh: Creditium có nghĩa là sự tin tưởng, là sự nuôi dưỡng lòng tin, là sự hẹn trả.
Trong tiếng Anh được gọi là Credit. - Nông hộ là hộ nông dân có phương tiện kiếm sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình vào sản xuất. Nói chung, đó là các gia đình sống bằng thu nhập từ nghề nông; ngoài ra, hộ còn có thể tiến hành thêm các hoạt động khác, tuy nhiên đó chỉ là các hoạt động phụ. Hộ là một tế bào của xã hội với sự thống nhất của các thành viên có cùng huyết thống, mà mỗi thành viên đều có nghĩa vụ và trách nhiệm làm tăng thu nhập, đảm bảo cho sự tồn tại của hộ (Frank Ellis, 1988).
* Theo Điều 3 – Nghị định 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ Về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn: - Nông thôn: là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn, được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã. - Nông nghiệp: là phân ngành trong hệ thống ngành kinh tế quốc dân, bao gồm các lĩnh vực nông, lâm, diêm nghiệp và thuỷ sản. * Theo Điều 4 – Luật Các Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH 12 được Quốc hội thông qua ngày 16/6/2010: - Tổ chức tín dụng: là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng. TCTD bao gồm ngân hàng, TCTD phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân.
- Cấp tín dụng: là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả 7 bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. - Cho vay: là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Cấu trúc của dịch vụ tín dụng nông thôn Theo Trần Tiến Khai (2014), tín dụng nông thôn gồm 3 loại: - Tín dụng chính thức gồm: NH thương mại, NH phát triển, NH tiết kiệm đặc biệt, tiết kiệm bưu điện, NH hợp tác xã, chi nhánh các NH Trung ương và khu vực đó là những TCTD hoạt động theo quy định và quản lý của NH Trung ương, được Chính phủ ủy quyền thực hiện các giao dịch tài chính. - Tín dụng bán chính thức gồm: quỹ tín dụng hợp tác xã, hiệp hội tín dụng, NH cấp xã, các chương trình phát triển nông thôn, các chương trình tài chính phi chính phủ (NGO)…Khu vực bán chính thức mặc dù vẫn chịu sự quản lí của Ngân hàng Trung ương và hệ thống ngân hàng, được các cơ quan này cấp phép hoạt động nhưng không phải tuân theo các quy định của hoạt động ngân hàng.
Tín dụng bán chính thức còn được cung ứng thông qua các Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh,… hoạt động rộng khắp với những món vay nhỏ, lãi suất thấp. - Tín dụng không chính thức gồm: Câu lạc bộ tiết kiệm cộng đồng, quỹ tương hỗ, họ - hụi, đại lý vật tư nông nghiệp, chủ kho, thương gia/nông dân/người cho vay, bạn bè, bà con…Hoạt động hoàn toàn không nằm dưới sự quản lí, kiểm soát của Chính phủ, hoạt động không cần sự cấp phép của cơ quan có thẩm quyền nào, chủ yếu dựa vào cam kết, điều lệ do chính các thành viên trong nhóm đặt ra. Đặc điểm của thị trường tín dụng nông thôn Theo Trần Tiến Khai (2014), đặc điểm của thị trường tín dụng nông thôn là: - Chi phí giao dịch cao, do: 8 + Khách hàng cư trú phân tán: Người dân nông thôn tinh Trà Vinh nói riêng, ĐBSCL nói chung thường sống rải rác trên địa bàn rộng lớn, mật độ dân số thấp. + Cộng đồng nông dân đa dạng: Có độ tuổi, nghề nghiệp, trình độ học vấn, dân tộc, phong tục tập quán khác nhau… + Giá trị vay nợ thấp: Thông thường nông hộ chỉ vay nợ để đảm bảo cho nhu cầu tối thiểu phục vụ cho sản xuất như mua phân bón, thuốc trừ sâu, con giống, thức ăn… + Tốn nhiều thời gian đi lại, chi phí khác cần có khi cho vay và thu hồi nợ.
+ Chi phí thông tin và marketing cao do cơ sở hạ tầng thông tin kém. - Nhiều rủi ro, do: + Khí hậu thời tiết dễ biến đổi nên ảnh hưởng nhiều đến SXNN. + Lợi nhuận từ nông nghiệp thấp: So với các ngành khác như công nghiệp, thương mại, dịch vụ thì lợi nhuận từ nông nghiệp thường thấp hơn. + Nhu cầu tiêu dùng của gia đình: có thể sử dụng vốn vay không đúng mục đích như để trả nợ, điều trị bệnh, chi phí cho việc học tập… + Tương đồng về điều kiện tự nhiên: Khi có dịch bệnh thường xảy ra đồng loạt trên cả một vùng rộng lớn.
+ Giá hàng hóa nông sản biến động: Do không có chính sách bao tiêu tốt nên khi vào mùa thu hoạch chính vụ nông sản thường bị rớt giá, điệp khúc “được mùa, mất giá” thường xuyên xảy ra. + Xác suất mất khả năng chi trả cao: Do SXNN phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, giá cả không ổn định. + Thế chấp kém: Do nông hộ ít có tài sản có giá trị cao để thế chấp. + Quyền sử dụng đất đai chưa toàn vẹn.
9 + Hệ thống pháp lý yếu: Để kê biên phát mãi, thanh lý tài sản thế chấp phải mất nhiều thời gian và qua nhiều thủ tục nhiêu khê. + Khả năng thu hồi nợ kém: Vì các lý do nêu trên nên khi nông hộ mất khả năng chi trả thì khó có khả năng thu hồi nợ. - Hệ quả: + NH thương mại không muốn cho vay. + Người cho vay tập trung vào nông trại quy mô lớn, bỏ qua nông trại nhỏ do nguy cơ chi phí giao dịch cao và không bảo đảm khả năng chi trả.
+ Thị trường tín dụng phi chính thức phát triển, vì: Chi phí giao dịch thấp; quay vòng vốn nhanh; tính gần gũi, mặc dù lãi suất cao. Thông tin bất cân xứng trong giao dịch tín dụng và lý thuyết sàng lọc tín dụng Theo Trương Quang Hùng (2013): Thông tin bất cân xứng là tình trạng trong một giao dịch một bên có thông tin đầy đủ hơn và tốt hơn so với bên còn lại. Thông tin bất cân xứng có thể dẫn đến thất bại của thị trường vì nó gây ra: sự lựa chọn bất lợi, tâm lý ỷ lại, vấn đề người ủy quyền – người thừa hành. - Sự lựa chọn bất lợi (sự lựa chọn ngược) - Adverse Selection: Hành vi cơ hội thể hiện lợi thế của người có thông tin quan trọng so với người không có thông tin thông qua việc che dấu thông tin.
Trường hợp này thường xảy ra trước khi ký kết hợp đồng giao dịch. - Rủi ro đạo đức (tâm lý ỷ lại) - moral hazard: Chủ nghĩa cơ hội được thể hiện dưới lợi thế của một người có nhiều thông tin so với một người có ít thông tin do hành vi không quan sát được. Hình thức chủ nghĩa cơ hội này thường xảy ra sau khi ký hợp đồng. - Vấn đề người ủy quyền – người thừa hành: 10 Là trường hợp một bên ủy quyền cho một bên khác để thực hiện một hay những công việc nhất định.
Có sự khác nhau về mục tiêu giữa người thừa hành và người ủy quyền (do động cơ khác nhau). Do thông tin bất cân xứng, người ủy quyền khó cưỡng chế thi hành, đánh giá hay khuyến khích công việc. * Trong lĩnh vực tín dụng: Theo Phan Đình Khôi (2012), trong bài nghiên cứu Tín dụng chính thức và không chính thức ở ĐBSCL: Hiệu ứng tương tác và khả năng tiếp cận, có đề cập: Stiglitz và Weiss (1981) cung cấp lý thuyết sàng lọc tín dụng giải thích lý do tại sao một số người được vay trong khi một số khác lại không được vay. Các TCTD chỉ có thể đánh giá mức độ tín nhiệm của khách hàng vay dựa trên thông tin có sẵn trước khi khoản vay được cấp.
Nếu không có thông tin về các hành vi sau một khoản vay của người vay, thông tin bất đối xứng nâng cao nhận thức về nguy cơ đối với người cho vay. Thông tin bất cân xứng tạo ra ít nhất hai vấn đề trong tín dụng vi mô – lựa chọn bất lợi và rủi ro đạo đức. Lựa chọn bất lợi phát sinh trong quá trình sàng lọc, những người cho vay không phân biệt được khách hàng “tốt” và “không tốt” và vì vậy không cho những khách hàng “tốt” vay, thị trường không cung cấp các khoản tín dụng đến đối tượng khách hàng mục tiêu. Rủi ro đạo đức liên quan đến các cơ chế giám sát và thực thi sau khi khoản vay được chấp thuận do người cho vay không nỗ lực hoàn trả vốn vay vì họ biết các TCTD chia sẻ một phần rủi ro của khoản vay đó (Mohamed, 2007; Phạm & Lensink, 2007).
Vì vậy các TCTD quyết định cho vay hay không và quyết định mức tín dụng bao nhiêu dựa trên các thông tin mà họ có được về khách hàng vay. Như vậy, không phải tất cả các khách hàng vay sẽ nhận được tín dụng mà họ áp dụng cho. Do đó, khách hàng vay phải đối mặt với sàng lọc tín dụng bất kể khả năng trả nợ của họ (Armendariz de Aghion & Morduch, 2005). 11 Người đi vay tiềm ẩn rủi ro cao (có ý định lừa đảo, tình hình sản xuất kinh doanh đang gặp khó khăn, sử dụng vốn không đúng mục đích…) là những người tích cực trong việc tìm kiếm các khoản vay nhưng các TCTD không thể có đầy đủ thông tin về khách hàng do khách hàng cố ý che đậy thông tin hay tạo thông tin giả.
Hoặc sau khi cho vay, cán bộ tín dụng không kiểm tra, giám sát tình hình sử dụng vốn vay của khách hàng. Do đó các TCTD có thể lựa chọn sai các đối tượng có rủi ro cao để cho vay hoặc không kiểm soát được mục đích sử dụng vốn vay của khách hàng…nên các khoản vay có thể không được hoàn trả đúng hạn, làm tăng tỷ lệ nợ xấu gây thiệt hại cho các TCTD.