ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam là một nƣớc nông nghiệp, ngàn trồng trọt và chăn nuôi chiếm một vị trí quan trọng trong sản xuất nông nghiệp của nƣớc ta. Ngành chăn nuôi cung cấp thực phẩm chủ yếu cho con ngƣời, cung cấp phân bón cho cây trồng, cải tạo đất đai, góp phần xây dựng nông nghiệp một cách bền vững. Hiện nay, tỷ trọng chăn nuôi trông nông nghiệp ƣớc ta chiếm khoảng 27 - 28% và đang có xu hƣớng tăng. Phát triển chăn nuôi nhằm tạo việc làm nâng cao thu nhập của khu vực nông nghiệp, nông thôn góp phần cải thiện chất lƣợng dinh dƣỡng cho ngƣời dân và thúc đẩy tiến trình giảm nghèo.
Sản phẩm chăn nuôi không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nƣớc mà còn cho nhu cầu xuất khẩu. Chăn nuôi gia cầm là một trong những ngành chủ lực đáp ứng nhu cầu thịt trứng cho ngƣời dân, trong đó chăn nuôi gà đẻ trứng cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc cung cấp protein động vật cho bữa ăn hàng ngày của con ngƣời. Trứng là một sản phẩm giàu dinh dƣỡng và khá cân bằng về chất dinh dƣỡng. Trứng gia cầm có tới 12,5% protein, trong khi đó thịt bò là 30% protein và thịt lợn là 18% protein.
Ngoài ra trong trứng gia cầm còn rất giàu chất béo là lecithin, một chất vận chuyển quan trọng trong cơ thể động vật, chất béo và vitamin cần thiết cho con ngƣời và động vật nói chung Trên thực tế chăn nuôi gia cầm đã trở thành một nghề không thể thiếu trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp của một quốc gia. Ở nƣớc ta chăn nuôi chăn nuôi gia cầm đóng một vai trò quan trọng trong kinh tế nông hộ, chiếm 19% tổng thu nhập nông hộ, xếp thứ 2 sau chăn nuôi lợn. Do nền kinh tế nƣớc ta ngày càng phát triển nên nhu cầu đời sống của dân ta ngày càng cao. Vì vậy phát triển chăn nuôi gia cầm không chỉ thỏa mãn nhu cầu về thực phẩm tiêu dùng hàng ngày mà còn đáp ứng đƣợc nhu cầu về chất lƣợng sản phẩm.
1 Vấn đề đặt ra lag lựa chọn giống gà nào cho phù hợp với điều kiện Việt Nam, chất lƣợng tốt, hiệu quả kinh tế cao và thích ứng với nhiều phƣơng thức chăn nuôi. Để đáp ứng nhu cầu này, ngành chăn nuôi gia cầm đã tiến hành nhập một số giống gà, có khả năng thích ứng tốt, chất lƣợng sản phẩm tốt nhƣ: giống gà Ác,. nhằm đáp ứng đƣợc nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của thị trƣờng. Để góp phần đánh giá đầy đủ khả năng sản xuất, năng suất của gà Ác và phƣơng pháp nuôi an toàn dịch bệnh, chúng tôi tiến hành đề tài: “Khả năng sinh sản của đàn gà Ác nuôi ở trang trại gia đình Thắng Linh tại Nghi Văn - Nghi Lộc - Nghệ An”.
MỤC ĐÍCH Đánh giá khả năng sinh trƣởng, sinh sản và khả năng thích nghi của đàn gà Ác trong điều kiện chăn nuôi nông hộ ở Việt Nam. YÊU CẦU Tuân thủ nghiên ngặt các quy trình vệ sinh, nuôi dƣỡng, chăm sóc, công tác thú y của trang trại. Theo dõi đầy đủ, ghi chéo, thu thập số liệu, thông tin một cách khách quan, chân thực và kế thừa. 2 Phần II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
KHẢ NĂNG SINH TRƢỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA GIA CẦM 2. Khả năng về sinh trƣởng Sinh trƣởng là quá trình tổng hợp, tích lũy các chất hữu cơ do đồng hóa và dị hóa: là sự tăng lên về chiều cao, chiều dài, bề ngang, khối lƣợng của từng cơ quan, bộ phận cũng nhƣ toàn bộ cơ thể con vật trên cơ sở tính di truyền có từ đời trƣớc (Trần Đình Miên và Nguyễn Kiên Đƣờng, 1992). Về mặt sinh học, sinh trƣởng đƣợc xem nhƣ quá trình tổng hợp protein, do vậy ngƣời ta lấy việc tăng khối lƣợng làm chỉ tiêu đánh giá quá trình sinh trƣởng. Tuy nhiên, trong thực tế có thể gặp hiện tƣợng tăng trọng mà không phải do sinh trƣởng (chẳng hạn béo mỡ, tích nƣớc do không có sự phát triển của mô cơ).
Sự sinh trƣởng kéo dài liên tục từ khi trứng dụng cho tới khi cơ thể trƣởng thành và đƣợc chia làm hai giai đoạn chính: giai đoạn trong thai và giai đoạn ngoài thai. Đối với gia cầm, sinh trƣởng là quá trình biến đổ, tổng hợp của sự tăng lên về số lƣợng, kích thƣớc của tế bào và thể dịch trong mô bào giai đoạn phát triển phôi. Trong số các mô, si h trƣởng là do tăng lên về kích thƣớc của tế bào. Giai đoạn sinh trƣởng này chia làm hai thời kỳ: thời kỳ gà con và thời kỳ gà trƣởng thành.
Thời kỳ gà con: trong thời kỳ này, tế bào tăng nhanh cả về số lƣợng, kích thƣớc và khối lƣợng nên gia cầm có tốc độ sinh trƣởng nhanh với cƣờng độ mạnh. Một số cơ quan nội tạng chƣa phát triển hoàn chỉnh, đặc biệt là hệ tiêu hóa. Các men chƣa đầy đủ, gà con dễ bị ảnh hƣởng của thức ăn và nuôi dƣỡng. Do đó, chất lƣợng thức án và kỹ thuật nuôi dƣỡng ở thời kỳ này ảnh hƣởng rất tới độ sinh trƣởng của gia cầm.
Gà con rất nhảy cảm với sự thay đổi của nuôi dƣỡng, đặc biệt là nhiệt độ. Trong những ngày đầu, nhiệt độ ảnh hƣởng rất lớn 3 đến tốc độ sinh trƣởng của hà con, do thân nhiệt chƣa ổn định. Trong thời kỳ này cũng diễn ra quá trình thay lông. Đây là quá trình sinh lý quan trọng của gia cầm, làm tăng quá trình trao đổi chất, quá trình tiêu hóa, hấp thu, tuần hoàn, do đó cần chú ý tới hàm lƣợng các chất dinh dƣỡng đặc biệt là các acid amin hạn chế nhƣ: lysin, methionine và tryptophan.
Thời kỳ gà trƣởng thành: thời kỳ này các cơ quan, bộ phận trong cơ thể gà gần nhƣ đã phát triển hoàn thiện. Số lƣợng các tế bào, bộ phận trong cơ thể gà gần nhƣ phát triển hoàn thiện. Số lƣợng các tế bào tăng chậm, chủ yếu là quá trình phát dục. Quá trình tích lũy cơ thể gà một phần để duy trì sự sống và một phần để tích lũy mỡ, tác động sinh trƣởng hơn thời kỳ gà con.
Các yếu tố ảnh hƣởng đến khả năng sinh trƣởng Có rất nhiều yếu tố ảnh hƣởng đến tốc độ sinh trƣởng, nhƣng yếu tố quan trọng nhất là giống và chế độ dinh dƣỡng. Ngoài ra, hệ số di truyền, tính biệt, tốc độ mọc lông và một số điều kiện ngoại cảnh cũng ảnh hƣởng tới tốc độ sinh trƣởng. Ảnh hưởng của giống, dòng Giống, dòng có ảnh hƣởng lớn đến sự sinh trƣởng. Các giống gia cầm khác nhau có ảnh hƣởng của di truyền tới khả năng sinh trƣởng là khác nhau.
Các giống gia cầm hƣớng thịt có tốc độ nhanh hơn giống gia cầm hƣớng trứng và kiêm dụng. Theo Nguyễn Mạnh Hùng và CS (1994), sự khác nhau về khối lƣợng giữa các giống gia cầm là rất lớn, giống gà hƣớng thịt nặng hơn gà hƣớng trứng 500 - 700g (13-30%). Giữa các dòng khác nhau của cùng một giống khả năng sinh trƣởng cũng khác nhau. Ảnh hưởng của tính biệt Sự khác nhau về sinh trƣởng là do gene quy định, trong đó có ít nhất một cặp gen liên kết với giới tính nên tốc độ sinh trƣởng còn chịu ảnh hƣởng của tính biệt.
Sự di truyền các tính trạng về khối lƣợng cơ thể do 15 cặp gen tham gia, trong đó ít nhất có một gene về sinh trƣởng liên kết giới tính, vì vậy có sự sai 4 khác về khối lƣợng giữa con trống và con mái trong cùng một giống. Theo Phùng Đức Tiến (1996) gà trống có tốc độ sinh trƣởng nhanh hơn gà mái (từ 24 -32%), sự khai thác này là do gene liên kết giới tính. Những gene này ở gà trống hoạt động mạnh hơn ở gà mái, vì gà trống có 2NST giới tính trong khi gà mái chỉ có 1NST giới tính. Ảnh hưởng của tốc độ mọc lông Tốc độ mọc lông có ảnh hƣởng rõ rệt đến tốc độ sinh trƣởng.
Trong cùng 1 giống, cùng tính biệt, các cá thể có tốc độ mọc lông nhanh thì đồng thời có tốc độ sinh trƣởng nhanh. Tốc độ mọc lông là tính trạng di truyền đƣợc quy định bởi alen liên kết giới tính, trong cùng một giống gà thì gà mái có tốc độ mọc lông đều và nhanh hơn gà trống, đó là do hormone có tác dụng ngƣợc chiều với gene liên kết giới tính. Trong cùng một giống, cùng giới tính, ở gà tốc độ mọc lông nhanh thì có tốc độ sinh trƣởng và phát triển tốt hơn. Theo Brands và Biilchei (1987) tốc độ mọc lông là tính trạng di truyền có liên quan chặt chẽ đến đặc điểm trao đổi chất, sinh trƣởng và sự phát triển của gia cầm.
Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng Quá trình sinh trƣởng và phát triển của gia cầm, khi dòng, giống là nguyên nhân bên trong mang tính quyết định thì thức ăn là nguyên nhân bên ngoài quan trọng nhất để phát triển tiềm năng di truyền của giống. Nếu không cung cấp đủ các chất dinh dƣỡng cho gia cầm phát huy hết khả năng sinh trƣởng và khả năng sản xuất, đồng thời cũng không phát huy hết đặc tính của giống. Để việc bổ sung thức ăn đạt hiệu quả cao cần cung cấp đủ số lƣợng thành phần dinh dƣỡng và chú ý cân bằng năng lƣợng, protein, acid amin. Ảnh hưởng của các yếu tố môi trường Môi trƣờng sống có ảnh hƣởng rất lớn tới tốc độ sinh trƣởng của gia cầm thông qua các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng và sự thông thoáng.
5 - Ảnh hƣởng của nhiệt độ Nhiệt độ của môi trƣờng là yếu tố ảnh hƣởng rõ rệt nhất đến khả năng sinh trƣởng của gia cầm. Đối với gà con, do giai đoạn còn nhỏ nên cơ quan điều khiển nhiệt chƣa hoàn chỉnh nên yêu cầu về nhiệt tƣơng đối cao. Theo Bùi Đức Dũng và Lê Hồng Mận (1993), giai đoạn gà con cần nhiệt độ từ 30 - 350C. Nếu nhiệt độ quá thấp, gà cn sẽ dồn tụ, kém ăn, sinh trƣởng chậm, hoặc chết do dẫm đạp lên nhau.
Nếu nhiệt độ quá cao cũng sẽ hạn chế khả năng sinh trƣởng, hạn chế việc sử dụng thức ăn, uống nƣớc nhiều, thở mạnh, bài tiết phân lỏng và dễ mắc các bệnh đƣờng tiêu hóa. Sau 5 tuần tuổi nhiệt độ tiêu chuẩn trong chuồng nuôi là từ 18 - 200C. Khi nhiệt độ môi trƣờng thay đổi 10C, tiêu thụ năng lƣợng của gà mái sẽ biến đổi tƣơng đƣơng 2 kcal ME. Vì vậy, trong chăn nuôi khi xây dựng thiết kế chuồng trại và trong quá trình sản xuất cần lƣu ý tìm ra giải pháp tối ƣu để đạt đƣợc xấp xỉ tiêu chuẩn nhiệt độ quy định.
- Ảnh hƣởng của ẩm độ Ẩm độ cũng là yếu tố quan trọng ảnh hƣởng đến sự sinh trƣởng của gia cầm.