ĐẶT VẤN ĐỀ 1 Hiện nay các mặt hàng về hương liệu đang có xu hướng được ưa chuộng trên thị trường vì không chỉ mang lại hương thơm khi sử dụng mà bên cạnh đó còn mang lại rất nhiều công dụng khác đem lại lợi ích cho người sử dụng. Các sản phẩm tinh dầu từ các sản phẩm tự nhiên, không tổng hợp từ các hóa chất tạo mùi càng được ưa chuộng hơn do không gây ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng. Do đó tinh dầu tự nhiên từ những loại rau - củ - quả - hoa có mùi hương dễ chịu, có các thành phần hóa học mang lại tác dụng tốt cho sức khỏe ngày càng được tin dùng và lựa chọn. Trong đó tinh dầu chiết xuất từ húng quế (Ocimum basilicum L.) đang có xu hướng phổ biến trên thị trường không chỉ vì mùi hương mà bên cạnh đó còn đem lại một vài ích lợi khác như tinh dầu húng quế có các chất có khả năng làm tinh thần thoải mái, giúp đuổi muỗi, giúp trị các vết ngứa khi bị côn trùng đốt,… Tùy vào từng vùng miền, thời gian thu hái, tỉ lệ nguyên liệu : nước, thời gian hay sự khác biệt khi sử dụng lá tươi và lá khô sẽ cho ra hàm lượng tinh dầu cao nhất ở các điều kiện khác nhau.
Bên cạnh đó một vài nghiên cứu đã chỉ ra rằng tinh dầu chiết xuất từ húng quế (Ocimum basilicum L.) có khả năng chống lại sự xâm nhập và phát triển từ các tác nhân gây nhiễm, gây bệnh của một số vi sinh vật như: Staphylococcus aureus, Escherichia coli, Pseudomonas aeruginosa,… Hoạt tính kháng khuẩn của các loại tinh dầu mặc dù có cùng nguồn gốc từ một loài thực vật nhưng có thể khác nhau, điều này có thể là do kiểu gen quy định các đặc điểm về hình thái giống cây trồng khác nhau cho hoạt tính kháng khuẩn khác nhau. Vì vậy việc “Nghiên cứu hoạt tính kháng khuẩn của tinh dầu lá húng quế (Ocimum basilicum L.)” được đề xuất với các mục tiêu nghiên cứu: 1 Tách chiết được tinh dầu từ cây húng quế. Khảo sát một vài yếu tố ảnh hưởng đến hiệu suất ly trích tinh dầu như tỉ lệ nguyên liệu : nước, thời gian để tìm ra điều kiện tối ưu và đạt được hàm lượng tinh dầu cao nhất. Xác định thành phần hóa học của tinh dầu.
Khảo sát khả năng kháng khuẩn của tinh dầu húng quế (Ocimum basilicum L.) đối với một số vi sinh vật như: Staphylococcus aureus, Escherichia coli, Pseudomonas aeruginosa. Tổng quan về húng quế 2. Phân loại thực vật Giới: Plantae Ngành: Magnoliophyta Lớp: Magnoliophyta Phân lớp: Lamiidae Bộ: Lamiales Họ: Lamiaceae Chi: Ocimum Loài: Ocimum basilicum 2. Nguồn gốc ▪ Húng quế (Ocimum basilicum L.), một thành viên của họ Lamiaceae là một loại thảo mộc hàng năm mọc ở một số vùng vòng quanh thế giới (Amir và cộng sự, 2011).
▪ Theo tác giả Tran và cộng sự (2018) húng quế có nguồn gốc từ Ấn Độ và Trung Quốc do điều kiện khí hậu thuận lợi mà hiện nay được trồng phổ biến ở nhiều nước nhiệt đới và ôn đới ở Châu Á, Châu Phi, Trung và Nam Châu Mỹ. ▪ Trên thế giới có nhiều loại húng quế, nhưng húng quế Việt Nam có mùi dịu nhẹ hơn. Ở Việt Nam, húng quế được trồng ở nhiều tỉnh. Cây ưa sáng và ẩm, sinh trưởng mạnh trong mùa mưa ẩm, thích hợp với đất phù sa và đất thịt.
Mùa ra hoa thường vào tháng 7 đến tháng 9 (Lê, 2018). Đặc điểm hình thái ▪ Cây mọc quanh năm, cỏ đứng, cao 0,5-1,2m, rất phân nhánh, toàn cây có mùi thơm. Thân non màu xanh có phớt tía hoặc màu tía, rất ít lông. Lá đơn, mọc đối chéo chữ thập.
Phiến lá hình trứng nhọn ở đầu và đáy phiến hình nêm men dần xuống cuống, kích thước 3-8 x 2-5cm, màu xanh lục, mặt trên đậm hơn mặt dưới, bìa có răng cưa cạn ở 2/3 phía trên, nhiều đốm tuyến. Gân lá hình lông chim, nổi rõ ở mặt dưới, 6-8 cặp gân phụ hơi cong lên ở mép lá, có ít lông tơ 3 ngắn. Cuống lá màu xanh nhạt, hình trụ hơi phẳng ở mặt trên, dài 2-5cm ít lông ngắn. Cụm hoa ở ngọn cành kiểu chùm xim bó hoặc chùm xim biến dạng hình tháp.
Cánh hoa màu trắng hồng, rìa màu hồng. Quả bế tư, màu đen, hình trứng ngược, dài khoảng 1,2mm (Lê, 2018). ▪ Hoa màu trắng, hồng và đôi khi tím, hoa có 6 bông, có cuống, gần như phần nách không cuống. Trong số hơn 65 loài Ocimum, húng quế là cây trồng có tinh dầu chính được trồng thương mại ở nhiều nước.
Húng quế có mùi đặc trưng và cay (Amir và cộng sự, 2011). ▪ Húng quế là một loại thảo mộc phân nhánh mọc thẳng cao từ 0,3-1,3m, có lá màu xanh nhạt, mượt. Lá của nó rất đơn giản, đối diện, dài 3-11cm, rộng 1- 6cm, hình trứng, nhọn và thường có răng chứa nhiều tuyến dầu lưu trữ tinh dầu (Al Abbasy và cộng sự, 2015). Ứng dụng trong y học cổ truyền ▪ Ở dạng tươi, lá húng quế thường được dùng làm gia vị, nguyên liệu chế biến món ăn hàng ngày, Trong y học truyền thống, nhờ vào đặc tính chống viêm, chống oxy hóa và kháng khuẩn của cây, húng quế cũng được sử dụng để thúc đẩy tiêu hóa, kích thích lưu thông hô hấp, giảm các triệu chứng cảm lạnh và giảm bớt các vấn đề về tiêu hóa (Tran và cộng sự, 2018).
▪ Nó được coi là có lợi trong y học dân gian để điều trị bệnh tiểu đường, rối loạn hô hấp, dị ứng, dạ dày, chuột rút, nôn mửa, táo bón, đau đầu (Al-Maskri và cộng sự, 2011). ▪ Nó được sử dụng trong y học cổ truyền ở Ấn Độ, để điều trị các bệnh nhiễm trùng khác nhau, rối loạn da và gan, cảm lạnh, ho, sốt và sốt rét. Húng quế là một nguồn tuyệt vời của β-carotene, magie, sắt và canxi (Abou và cộng sự, 2015). ▪ Bên cạnh đó các nghiên cứu của tác giả Võ và cộng sự (2020) cho thấy tinh dầu cây húng quế Ocimum basilicum L.
ngoài khả năng kháng khuẩn (Staphylococcus epidermidis, Staphylococcus aureus, Bacillus subtilis, 4 Escherichia coli, Klebsiella pneumonia, Pseudomonas aeruginosa), kháng nấm (Candida albicans, Candida glabrata), chống oxi hóa còn có khả năng chống ung thư cổ tử cung (Hela) và ung thư gan (Hep-2). Thành phần hóa học có trong tinh dầu ▪ Tinh dầu Ocimum basilicum L. thể hiện một loạt các hợp chất hóa học đa dạng và phong phú, tùy thuộc vào sự thay đổi về kiểu hình hóa học, màu sắc của lá và hoa, mùi thơm và nguồn gốc của cây. Các thành phần chính bao gồm chavicol methyl ether hoặc estragole, linalool và eugenol (Abou và cộng sự, 2015).
▪ Theo tác giả Marotti và cộng sự (1996) tinh dầu cũng sở hữu chất kháng khuẩn và một số thành phần của nó chẳng hạn như 1,8-cineole, linalool và long não được biết đến là có hoạt tính sinh học. ▪ Theo tác giả Tran và cộng sự (2018) các nghiên cứu thực nghiệm đã chỉ ra thành phần hóa học của húng quế thay đổi đáng kể. Ví dụ, trong khi lá húng quế được thu thập ở Thổ Nhĩ Kỳ và Iran được phát hiện có nhiều estragole (52,6% trong mẫu lá thu được ở Thổ Nhĩ Kỳ, lần lượt là 52,4% và 40,4% ở lá húng quế tím và lá húng quế xanh), các nghiên cứu khác chỉ ra rằng các giống cây trồng khác như lá húng quế ở Brazil và Pakistan chứa thành phần chủ yếu là linalool với nồng độ dao động từ 56,7-69,3%. ▪ Qua nghiên cứu của tác giả Al-Maskri (2011) và cộng sự cho thấy số lượng hợp chất và tỷ lệ phần trăm của chúng đã được tìm thấy có sự thay đổi với các mùa khác nhau.
L-linalool đã được xác định là thành phần cốt lõi của tinh dầu húng quế Ocimum basilicum (26,5-56,3%). Một số thành phần khác có mặt với một lượng đáng kể là geraniol (12,1-16,5%), 1,8-cineole (2,5-15,1%), p-allylanisole (0,2-13,8%) và DL-limonene (0,2-10,4%). β-farnesene mặc dù là một trong những nguyên tố chính trong thành phần tinh dầu được chiết xuất trong mùa đông (6,3%) và mùa xuân (5,8%) nhưng chỉ hiện diện với một lượng nhỏ trong chiết xuất tinh dầu vào mùa hè. 5 ▪ Đối với húng quế (Ocimum basilicum L.) ở Bình Định thì tác giả Võ và cộng sự cho thấy rằng nó là nguồn tinh dầu có chứa các thành phần có hoạt tính kháng khuẩn và kháng nấm.
Hàm lượng tinh dầu chiết xuất từ cây húng quế trồng ở Bình Định thu được bằng phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước chiếm hàm lượng 0,64% theo khối lượng mẫu tươi. Kết quả phân tích sắc ký khí ghép khối phổ (GC-MS) tinh dầu cây húng quế trồng ở Bình Định cho thấy tinh dầu có chứa 25 cấu tử (đã được định danh) với tổng hàm lượng là 99,99%. Cấu tử chính trong tinh dầu là methyl chavicol (85,92%). ▪ Luong và cộng sự (2022) nghiên cứu lá húng quế (Ocimum basilicum L.) được thu hái tại Thanh Hóa.
Thành phần hóa học của tinh dầu (Ocimum basilicum L.) đã được GC-MS kiểm tra. Các thành phần được xác định chiếm 0,5-0,6%. Có 23 hợp chất và thành phần chính các hợp chất là estragole (92,16%), 1,8-cineole (1,69%), 3-carene (0,99%) và trans-α-bergamotene (0,52%). ▪ Bên cạnh đó nhờ vào nghiên cứu của tác giả Lê (2018) đã cho thấy rằng phần trên mặt đất của cây húng quế chứa tinh dầu có hàm lượng cao nhất lúc cây đã ra hoa.
Lượng tinh dầu chứa trong cây húng quế khá cao là 0,5-1,7%, trong tinh dầu có linalool (60%), cineole, estragole (methyl chavicol) cùng một số chất khác như germacrene D, tau-cadinol, δ-gurjunen, δ-cadinene,… Estragole Linalool γ-muurolene 6 β-ocimene γ-cadinene Hình 2.1: Thành phần hóa học chính trong tinh dầu 2. Tác dụng của tinh dầu ▪ Tinh dầu húng quế đã được sử dụng trong nhiều năm để làm hương vị thực phẩm và một số sản phẩm như nha khoa và răng miệng cũng như trong nước hoa (Lachowicz và cộng sự, 1996). ▪ Hơn nữa, dữ liệu khoa học đã chứng minh rằng sự chống oxy hóa của các loại hợp chất dễ bay hơi trong tinh dầu húng quế làm cho nó trở thành một chất lành mạnh của hệ thống miễn dịch (Al-Maskri và cộng sự, 2011). ▪ Tuy nhiên, gần đây các công dụng tiềm năng của tinh dầu Ocimum basilicum L., đặc biệt là chất chống vi trùng và chất chống oxy hóa cũng đã được điều tra.
Các loại tinh dầu Ocimum basilicum thể hiện rộng rãi và ở các mảng khác nhau của các hợp chất hóa học, tùy thuộc vào sự thay đổi về kiểu hình, màu sắc của lá và hoa, hương thơm và nguồn gốc của cây (Amir và cộng sự, 2011). ▪ Trong đó, linalool đã được công nhận là thành phần chính của tinh dầu húng quế trong nhiều nghiên cứu trước đây. Linalool là một loại rượu terpene tự nhiên được tìm thấy trong nhiều loại gia vị và hoa.