Nhận xét kết quả điều trị ối vỡ non từ 24 tuần đến 33 tuần 6 ngày tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu Luận văn tốt nghiệp nhận xét kết quả điều trị ối vỡ non tuổi thai từ 24 tháng 0 ngày đến 33 tuần 6, vận dụng lý thuyết vào thực tế, đề xuất giải

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Y đa khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2022

78
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về ối vỡ non

Ối vỡ non (đối tượng nghiên cứu) là tình trạng màng ối bị vỡ trước khi chuyển dạ, thường xảy ra ở thai kỳ từ 24 tuần đến 33 tuần 6 ngày. Tình trạng này chiếm khoảng 30-40% các ca đẻ non và có thể dẫn đến nhiều biến chứng nghiêm trọng cho cả mẹ và thai nhi. Các yếu tố nguy cơ bao gồm nhiễm trùng, tiền sử sinh non, và các vấn đề về sức khỏe của mẹ. Việc hiểu rõ về biến chứng ối vỡ non là rất quan trọng để có thể đưa ra phương pháp điều trị hiệu quả.

1.1. Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ

Nguyên nhân chính dẫn đến ối vỡ non bao gồm nhiễm trùng âm đạo, cổ tử cung, và các yếu tố như tuổi thai, dinh dưỡng kém, và tiền sử sinh non. Nghiên cứu cho thấy rằng những sản phụ có tiền sử ra nước ối ở thai non tháng có nguy cơ tái phát cao hơn. Việc nhận diện các yếu tố nguy cơ này giúp các bác sĩ có thể đưa ra các biện pháp phòng ngừa và điều trị kịp thời.

1.2. Cơ chế bệnh sinh

Cơ chế bệnh sinh của ối vỡ non liên quan đến sự tiêu huỷ collagen và các thành phần cấu trúc của màng ối. Sự gia tăng hoạt động của các enzym như MMP có thể dẫn đến sự suy yếu của màng ối, làm tăng nguy cơ vỡ ối. Việc hiểu rõ cơ chế này có thể giúp phát triển các phương pháp điều trị mới nhằm ngăn ngừa tình trạng này.

II. Phương pháp điều trị ối vỡ non

Phương pháp điều trị cho sản phụ bị ối vỡ non thường bao gồm việc theo dõi chặt chẽ tình trạng sức khỏe của mẹ và thai nhi, sử dụng kháng sinh để ngăn ngừa nhiễm trùng, và có thể sử dụng corticosteroid để tăng cường sự phát triển phổi cho thai nhi. Việc quyết định thời điểm chấm dứt thai kỳ cũng là một yếu tố quan trọng trong điều trị. Các bác sĩ cần cân nhắc giữa lợi ích và rủi ro để đưa ra quyết định phù hợp nhất.

2.1. Theo dõi và chăm sóc thai nhi

Chăm sóc thai nhi trong trường hợp ối vỡ non bao gồm việc theo dõi nhịp tim thai, tình trạng nước ối, và các dấu hiệu nhiễm trùng. Việc theo dõi này giúp phát hiện sớm các biến chứng có thể xảy ra, từ đó có biện pháp can thiệp kịp thời.

2.2. Sử dụng thuốc điều trị

Sử dụng kháng sinh và corticosteroid là hai phương pháp chính trong điều trị ối vỡ non. Kháng sinh giúp ngăn ngừa nhiễm trùng, trong khi corticosteroid hỗ trợ sự phát triển phổi của thai nhi. Việc sử dụng các loại thuốc này cần được thực hiện dưới sự giám sát chặt chẽ của bác sĩ để đảm bảo an toàn cho cả mẹ và bé.

III. Kết quả điều trị và đánh giá

Kết quả điều trị cho sản phụ bị ối vỡ non tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội cho thấy tỷ lệ thành công cao trong việc kéo dài tuổi thai và giảm thiểu biến chứng cho thai nhi. Các chỉ số như cân nặng trẻ sơ sinh, điểm Apgar, và tỷ lệ nhiễm khuẩn sơ sinh đều được cải thiện đáng kể. Điều này cho thấy hiệu quả của các phương pháp điều trị đã được áp dụng.

3.1. Đánh giá chỉ số Apgar

Chỉ số Apgar là một trong những chỉ số quan trọng để đánh giá sức khỏe của trẻ sơ sinh. Kết quả cho thấy trẻ sinh ra từ các sản phụ có ối vỡ non thường đạt điểm Apgar cao hơn, cho thấy sự phát triển tốt hơn so với những trường hợp không được điều trị kịp thời.

3.2. Tỷ lệ nhiễm khuẩn sơ sinh

Tỷ lệ nhiễm khuẩn sơ sinh ở trẻ sinh ra từ các sản phụ có ối vỡ non được điều trị đúng cách cũng giảm đáng kể. Điều này cho thấy rằng việc can thiệp sớm và điều trị hiệu quả có thể làm giảm nguy cơ nhiễm trùng cho trẻ sơ sinh, từ đó nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho cả mẹ và bé.

25/01/2025
Luận văn tốt nghiệp nhận xét kết quả điều trị ối vỡ non tuổi thai từ 24 tháng 0 ngày đến 33 tuần 6 ngày tại bệnh viện phụ sản hà nội trong 6 tháng cuối năm 2021

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đại cương Ối vỡ non - Premature rupture of membranes (PROM) là ối vỡ tự nhiên khi chưa chuyển dạ hoặc ít nhất 1 giờ trước khi chuyển dạ (trước khi có sự khởi phát của cơn co tử cung) [8]. Ối vỡ non ở thai non tháng - preterm PROM (PPROM) là thuật ngữ chỉ những trường hợp ối vỡ ở thai từ 22 tuần 0 ngày đến 36 tuần 6 ngày khi chưa có chuyển dạ. Ối vỡ non ở thai non tháng xảy ra ở khoảng 3% các trường hợp thai nghén [2].

Ối vỡ non là nguyên nhân hoặc xuất hiện đồng thời với một phần ba các ca đẻ non, chiếm 30 đến 40% các ca đẻ non [1]. Ra nước ối ở thai non tháng có nguy cơ biến chứng cho cả mẹ và thai nhi. Hậu quả của ra nước ối trên thai non tháng phụ thuộc vào tuổi thai, ở tuổi thai càng non tháng thì biến chứng càng nặng nề. Vấn đề xử trí ra nước ối ở thai non tháng là một trong những vấn đề gây nhiều tranh cãi nhất với các quan điểm bất đồng như: - Tiếp tục theo dõi hay can thiệp ngay khi ra nước ối - Sử dụng thuốc giảm co - Thời gian sử dụng kháng sinh dự phòng - Thời gian sử dụng corticoids trước sinh - Phương pháp phát hiện nhiễm khuẩn cho mẹ và cho thai - Thời gian chấm dứt thai kỳ 1.

Giải phẫu màng đệm – màng ối Màng ối bao gồm năm lớp. Từ bên trong gần nhất với thai nhi đến bên ngoài tiếp giáp với khoang tử cung của mẹ, bao gồm (1) lớp biểu mô màng ối bên trong, gần nhất với bào thai, (2) màng đáy, (3) lớp đặc, (4) lớp nguyên bào sợi và (5) lớp trung gian tiếp xúc với màng đệm. Các điểm nối giữa màng ối và màng đệm rất lỏng lẻo và không được hình thành rõ ràng (Hình 1) [9]. Luan van 4 Màng đệm dày hơn màng ối nhưng có độ bền dẻo kém hơn.

Nó bao gồm một lớp lưới với collagen loại I, III, IV, V và VI, màng đáy (collagen loại IV, fibronectin và laminin) và các tế bào nguyên bào nuôi có cực hướng về màng rụng.1: Màng đệm - màng ối. [9] (A) màng ối, (B) màng đệm, (C) biểu mô màng ối, (D) mạng lưới sợi phát triển sau khi chồng lên nhau các màng trong tuần thai thứ 12 – 15. Mô học của màng đệm – màng ối Trước tuần thai thứ 12, màng ối chứa trong túi thai được ngăn cách với màng đệm bởi dịch màng đệm và lần lượt bao bọc thai nhi và nước ối trong một không gian riêng biệt trong túi thai. Màng ối lấy oxy và dinh dưỡng từ nước ối xung quanh cũng như dịch màng đệm cho đến khi “hợp nhất” không gian màng đệm.

Sự hợp nhất của không gian màng đệm này thường xảy ra từ tuần thứ 12 đến tuần thứ 14 của thai kỳ, có thể bị chậm lại ở một số thai kỳ lên đến tuần thứ 15. Sự hợp nhất giữa màng đệm và màng ối chỉ đơn giản là gắn kết hai lớp màng khi không gian màng đệm bị loại bỏ bởi sự mở rộng của túi ối – các màng chồng lên nhau trong khoảng thời gian từ 12 tuần đến 15 tuần, vài tuần sau đó là sự hình thành của một mạng sợi rất nhỏ [10]. Hai lớp màng này liên kết với nhau bởi hệ thống mô liên kết giàu collagen và chất nền gian bào làm tăng độ bền của các màng thai. Màng ối gồm một lớp biểu mô trụ đơn và phía dưới là những lớp mô liên kết xốp.

Màng đệm dày hơn, gồm các lớp lá nuôi. Màng ối hay nội sản mạc có tính chất dai và đàn hồi hơn, đồng thời có khả năng ngăn cản được vi khuẩn nhưng lại dễ thấm nước. Màng đệm hay trung sản mạc tính chất ít thấm nước nhưng lại dễ rách. Do đó, sự kết hợp của hai lớp màng có tác dụng tốt hơn từng lớp màng độc lập.

Luan van 5 Độ bền của các màng thai giảm dần theo tuổi thai do sự thay đổi tính chất lớp collagen và mạng lưới gian bào cùng với sự chết có chương trình của các tế bào. Quá trình này khá rõ đối với màng thai giáp với vị trí lỗ trong cổ tử cung. Sự suy yếu của màng thai được thúc đẩy bởi: sự xuất hiện của các protein ức chế (matrix metalloproteinases) như MMP-1, MMP-2, MMP-9; giảm các chất ức chế tác dụng lên MMP như TIMP-1, TIMP-3 ở trong màng; tăng tác dụng tách của enzyme polyADP – ribose polymerase (PARP). Khi chuyển dạ, dưới tác dụng của cơn co tử cung và sức rặn của sản phụ, áp lực trong buồng ối tăng làm vỡ màng thai tự nhiên.

Như vậy, các tác nhân gây giảm độ bền của màng thai và gia tăng áp lực buồng ối sẽ dẫn đến vỡ ối trước khi chuyển dạ [11]. Nguyên nhân, yếu tố nguy cơ và cơ chế bệnh sinh ối vỡ non 1. Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ - Các nguyên nhân làm giảm độ bền của màng thai: Nhiễm trùng âm đạo, cổ tử cung, tử cung: Neisseria gonorrhoeae, Chlamydia Trachomatis, Trichomonas Vaginalis, liên cầu nhóm B (GBS), các vi khuẩn kỵ khí và các tác nhân lây qua đường tình dục khác., đặc biệt ở tuổi thai bé [9]; viêm đường tiết niệu; mẹ nhẹ cân BMI < 19,8, dinh dưỡng kém, lao động vất vả; hút thuốc lá, ra máu âm đạo trong 3 tháng đầu thai nghén, rau bong non. - Nguyên nhân do tăng áp lực buồng ối: Ngôi thai bất thường, thai dị dạng, đa thai, đa ối, dị dạng tử cung, chấn thương.

- Nguyên nhân khác: Hở eo tử cung, khoét chóp cổ tử cung, cổ tử cung ngắn < 25mm, tiền sử đẻ non, ối vỡ non. Yếu tố nguy cơ của ra nước ối ở thai non tháng cũng giống như ở dọa đẻ non. Harger và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu bệnh chứng trên 341 sản phụ ra nước ối trên thai 20 đến 36 tuần và nhóm chứng gồm 253 sản phụ, để phân tích mối liên quan giữa 41 yếu tố nguy cơ với ra nước ối ở thai non tháng. Nghiên cứu cho thấy: tiền sử ra nước ối ở thai non tháng ở những lần thai nghén trước; nhiễm khuẩn đường sinh dục; ra máu âm đạo trước sinh hay hút thuốc lá là những yếu tố có mối liên quan chặt chẽ với ra nước ối ở thai non tháng [12].

Trong đó nhiễm trùng buồng tử cung là nguyên nhân thường gặp nhất, ba bằng chứng cho thấy mối liên quan này: (1) sản phụ OVN có khả năng có vi khuẩn trong nước ối cao hơn so với sản phụ không có Luan van 6 OVN, (2) sản phụ có OVN có tỷ lệ nhiễm khuẩn màng ối cao hơn, (3) tần suất OVN cao hơn ở sản phụ có nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới, đặc biệt là viêm âm đạo. Nhiễm khuẩn dẫn tới OVN thường âm thầm, không triệu chứng và được cho rằng là do nhiễm khuẩn ngược dòng từ đường sinh dục dưới. Tỷ lệ nhiễm khuẩn ngược dòng gây ra 60% số trường hợp OVN. Sự nhiễm khuẩn gây ra ly giải collagen làm yếu màng ối dẫn đến OVN.

Vi khuẩn còn có khả năng sản xuất phospholipase, kích thích sản xuất prostaglandin dẫn đến tăng co bóp tử cung. Mặc dù màng ối vỡ khi đủ tháng có thể do sự suy yếu sinh lý bình thường của màng kết hợp với lực kéo tạo ra bởi các cơn co tử cung, nhưng PPROM có thể là kết quả của một một loạt các cơ chế bệnh lý hoạt động riêng lẻ hoặc phối hợp như nhiễm trùng trong tử cung, tổn thương DNA do stress oxy hóa và sự thoái hoá tế bào sớm là những nguyên nhân chính gây vỡ ối non (Dutta, 2016; Gomez, 1997; Mercer, 2003) [9]. - Tiền sử OVN hoặc sinh non là một yếu tố nguy cơ chính của PPROM hoặc chuyển dạ sinh non trong lần mang thai tiếp theo [9, 13]. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra những sản phụ có tiền sử ra nước ối sẽ có nguy cơ tái phát.

Ví dụ như theo nghiên cứu về dự đoán sinh non (The Preterm Prediction Study), một nghiên cứu thuần tập lớn được tiến hành bởi The National Institute of Child Health and Human Development Maternal-Fetal Medicine Units Network, chỉ ra rằng tỷ lệ ra nước ối ở thai non tháng trong những lần có thai tiếp theo ở những phụ nữ có tiền sử này là 13,5%, trong khi tỷ lệ này ở những phụ nữ không có tiền sử ra nước ối ở thai non tháng chỉ là 4,1% (với RR =3,3, CI 95%= 2,1 – 5,2) [14]. Theo nghiên cứu của Lee T và cộng sự, những sản phụ có tiền sử ra nước ối ở thai non tháng có nguy cơ ra nước ối tái phát lên đến 20 lần và nguy đẻ non mà không kèm theo vỡ ối non tăng gấp 4 lần [15]. - Ra máu âm đạo trước sinh: Ra máu âm đạo ở ba tháng đầu thời kỳ thai nghén có mối liên quan mang tính chất thống kê với việc tăng nguy cơ ra nước ối trên thai non tháng (với RR = 1,9; CI 95% = 1,1 – 3,3) [15]. Ra máu âm đạo hơn một quý của thai kỳ làm tăng nguy cơ ra nước ối ở thai non tháng tới 3 đến 7 lần [16].

- Hút thuốc lá: Nguy cơ ra nước ối trên thai non tháng ở phụ nữ hút thuốc lá tăng gấp 2 đến 4 lần so với những phụ nữ không hút thuốc lá [16]. Yếu tố nguy cơ Luan van 7 này xuất hiện ngay cả khi đã điều chỉnh những yếu tố nguy cơ khác của ra nước ối ở thai non tháng, bao gồm cả viêm nhiễm. - Các yếu tố nguy cơ bổ sung liên quan đến PPROM tương tự như các yếu tố liên quan đến sinh non tự phát, bao gồm: chiều dài cổ tử cung ngắn, chảy máu trong 3 tháng giữa và 3 tháng cuối, chỉ số khối cơ thể thấp, tình trạng kinh tế xã hội thấp, sử dụng ma tuý bất hợp pháp và thai nghén gần nhau [9, 13]. Các yếu tố nguy cơ trên đều có liên quan đến PPROM, nhưng vỡ ối non thường xảy ra khi không có các yếu tố nguy cơ hoặc một nguyên nhân rõ ràng.

Nguy cơ tái phát trong lần mang thai tiếp theo thay đổi từ 6% đến 17 % bất kể tuổi thai [9, 13]. Cơ chế bệnh sinh 1. Vị trí Vị trí thường gặp nhất trong ối vỡ non là lớp màng bao phủ phía trên cổ tử cung. Màng ối tại vị trí này bị thay đổi cấu trúc, dễ bị phá vỡ và thường chứa nhiều vi khuẩn.

Trên lâm sàng không phải tất cả các trường hợp PPROM đều tuân theo kiểu vỡ cổ điển này. Cơ chế vỡ màng ối Cơ chế bệnh sinh của OVN tự phát chưa được hiểu rõ hoàn toàn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nhận xét kết quả điều trị ối vỡ non từ 24 tuần đến 33 tuần 6 ngày tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội" của tác giả Dương Thị Thúy Nga, dưới sự hướng dẫn của TS. Đỗ Tuấn Đạt và ThS. Trần Anh Đức, cung cấp cái nhìn sâu sắc về kết quả điều trị ối vỡ non trong khoảng thời gian quan trọng này. Nghiên cứu không chỉ phân tích các phương pháp điều trị mà còn đánh giá hiệu quả và những yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị, từ đó giúp nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho sản phụ. Bài viết mang lại lợi ích cho các bác sĩ, điều dưỡng và những người làm trong lĩnh vực y tế, giúp họ có thêm thông tin và kinh nghiệm trong việc xử lý tình huống tương tự.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến sản phụ khoa, bạn có thể tham khảo bài viết "Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến mổ lấy thai con so đủ tháng tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên", nơi cung cấp thông tin về các yếu tố quyết định trong quy trình mổ lấy thai. Ngoài ra, bài viết "Nghiên cứu về chỉ định và kết quả mổ lấy thai tại Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Bắc Ninh" cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về chỉ định và kết quả của các ca mổ lấy thai, từ đó có thể so sánh và đối chiếu với kết quả điều trị ối vỡ non. Cuối cùng, bài viết "Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng viêm âm đạo ở phụ nữ có thai tại Bệnh viện A Thái Nguyên" sẽ cung cấp thêm thông tin về các vấn đề sức khỏe khác mà phụ nữ mang thai có thể gặp phải, từ đó giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về sức khỏe sản phụ.