LỜI MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Mang thai và sinh đẻ là một quá trình sinh lý bình thường nhưng lại tiềm ẩn nhiều nguy cơ đối với sức khỏe, sự sống còn của cả mẹ và thai nhi, và có thể ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình. Chăm sóc sau sinh là các yếu tố quan trọng nhằm đảm bảo cho sức khoẻ bà mẹ.24] Theo Tổ chức y tế thế giới, có khoảng 60% tử vong bà mẹ xảy ra vào ngày thứ nhất sau sinh. Khoảng 13% và 4% tỷ lệ tử vong mẹ xảy ra vào tuần thứ nhất và tuần thứ hai sau sinh [32].
Ở Việt Nam theo số liệu của Bộ y tế năm 2009, tỷ lệ tử vong bà mẹ (MMR) là 69/100. Hai tuần đầu sau sinh là khoảng thời gian mà tần suất xuất hiện của các biến chứng sau sinh phổ biến nhất. Các biến chứng sau sinh có thể xảy ra đối với sản phụ bao gồm: chảy máu, bế sản dịch, nhiễm khuẩn sinh dục và tiết niệu, rối loạn tâm thần sau khi sinh…Nếu giai đoạn ngay sau sinh, các sản phụ và trẻ sơ sinh được chăm sóc một cách khoa học sẽ tạo tiền đề tốt cho sức khoẻ của mẹ-con, góp phần giảm thiểu tỷ lệ tử vong và bệnh tật, đảm bảo sự an toàn, phòng tránh hoặc phát hiện sớm những biến chứng sau sinh, giúp bà mẹ phục hồi sức khoẻ. Tuy nhiên hầu hết các hoạt động chăm sóc sức khoẻ sau sinh hiện nay mới chỉ được chú trọng trong thời gian các bà mẹ nằm viện (24- 48 giờ đầu tiên).
Các thăm khám sau sinh kể từ khi xuất viện cho đến hết thời kỳ hậu sản (42 ngày) hiện chưa được quan tâm. Công tác chăm sóc sau sinh bị xem nhẹ làm giảm cơ hội nâng cao sức khoẻ bà mẹ cũng như làm chậm quá trình phát hiện sớm và điều trị bệnh tật cho họ. Kiến thức và thực hành về chăm sóc sau sinh của bà mẹ hiện còn mang tính kinh nghiệm và tự phát [3]. Trong khuôn khổ của các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDGs), sức khoẻ bà mẹ là một quan tâm quan trọng của Bộ Y tế và Chính phủ Việt Nam.
Đảng và nhà nước Việt Nam đã có nhiều nỗ lực nhằm đảm bảo quyền bình đẳng giới, nâng cao vai trò, vị thế của phụ nữ trong xã hội. Một trong những nỗ lực quan trọng đó là giúp phụ nữ được thụ hưởng và tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe toàn 2 diện, đặc biệt là chăm sóc sức khỏe sinh sản, trong đó có chăm sóc sức khoẻ sau sinh, chấm dứt các hình thức suy dinh dưỡng, giải quyết nhu cầu dinh dưỡng của phụ nữ mang thai và đang cho con bú. Nhưng phụ nữ nông thôn nhất là những phụ nữ nông thôn ở những hộ nghèo thường không có đủ chất dinh dưỡng mà họ cần, khiến cho việc đáp ứng những đòi hỏi của cơ thể trong quá trình mang thai và cho con bú trở nên khó khăn hơn. Hơn nữa phân biệt đối xử trên cơ sở giới làm hạn chế khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc y tế, giáo dục cũng như các nguồn thu nhập,vì vậy càng khiến phụ nữ thiếu thốn về mặt dinh dưỡng [51].
Theo điều tra của Bộ y tế có tới 90% phụ nữ nông thôn không biết chăm sóc sức khoẻ y tế. Hiện nay, tỷ lệ bác sỹ tuyến xã chiếm khoảng 6,5 bác sỹ/vạn dân nhưng trên thực tế có những tỉnh tỷ lệ này chỉ đạt 1,1 bác sỹ/vạn dân. Trong khi đó có 70% dân số làm nông nghiệp, điều này cho thấy việc chăm sóc sức khoẻ nói chung và chăm sóc sức khoẻ sinh sản nhất là chăm sóc sức khoẻ sau sinh cho phụ nữ tại các vùng nông thôn còn nhiều bất cập [3]. Một trong những lý do mà phụ nữ ở nhiều vùng nông thôn chưa tiếp cận được các dịch vụ y tế hay chăm sóc sức khoẻ sau sinh là do công tác tuyên truyền chưa hiệu quả.
Mặt khác, họ không có khả năng về kinh tế, tài chính để tiếp cận và hưởng thụ thành quả của các dịch vụ y tế và chăm sóc sức khoẻ sau sinh. Theo Trung ương Hội LHPN Việt Nam, có đến gần 50% phụ nữ nông thôn phải trở lại làm việc, lao động, sản xuất khá sớm sau khi sinh, điều này dẫn đến sự hạn chế về điều kiện nghỉ dưỡng, chăm sóc sau sinh và nuôi con bằng sữa mẹ [42]. Bên cạnh đó, sau khi sinh thì phụ nữ nói chung và phụ nữ nông thôn nói riêng gặp phải những vấn đề sau sinh như trầm cảm sau sinh, mất ngủ sau sinh, bị khủng hoảng tâm lý sau sinh…Thống kê của bệnh viện Từ Dũ cho thấy có hơn 40% phụ nữ trầm cảm sau sinh có ý định tự tử [10]. Theo một nghiên cứu được công bố từ năm 2015, khảo sát trên 600 PNSS có chồng tại thành phố Đà Nẵng cho thấy tỷ lệ phụ nữ bị trầm cảm sau sinh là 19,3% [29, tr.
Theo tác giả Lương Bạch Lan (2009), tỷ lệ mắc trầm cảm ở PNSS là 11,6%, các yếu tố liên quan làm gia tăng tỷ lệ trầm cảm như thời gian nằm viện của con trên 30 ngày, không khoẻ khi mang 3 thai, tử vong sơ sinh,…Tuy nhiên, nhiều PNSS bị trầm cảm nhưng không được chẩn đoán đúng và điều trị kịp thời. Trầm cảm sau sinh ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe bà mẹ, đặc biệt là sự phát triển trí tuệ, cảm xúc và thể chất của đứa trẻ. Một trong những hậu quả trầm trọng của trầm cảm sau sinh là bà mẹ có thể xuất hiện những ý nghĩ, hành vi tự sát, tự hủy hoại bản thân và có thể giết chết đứa trẻ vừa mới sinh [22, tr. Xuất phát từ những vấn đề lý luận và đòi hỏi của thực tiễn, rất cần sự chung tay góp sức từ cả phía gia đình và cộng đồng chăm sóc sức khoẻ cho PNSS để góp phần phòng ngừa và giảm thiểu những hậu quả do trầm cảm sau sinh mang lại, tôi lựa chọn nghiên cứu: “Kết nối nguồn lực dựa vào cộng đồng trong chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ sau sinh tại xã Nhân Bình, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam” làm đề tài luận văn thạc sỹ.
Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Nghiên cứu về chăm sóc sức khỏe sau sinh của phụ nữ nói chung đã ở tất cả các quốc gia trên thế giới. Trong phần lịch sử nghiên cứu đề tài, chúng tôi xin chia các tài liệu nghiên cứu theo các vấn đề cụ thể như sau: Các nghiên cứu về phụ nữ nông thôn Ở Việt Nam, trong những năm gần đây đã có khá nhiều công trình, bài viết về phụ nữ nông thôn trong chăm sóc sức khỏe sinh sản được công bố. Vấn đề về phụ nữ nông thôn, sức khoẻ sinh sản của họ được đề cập khá sâu sắc với nhiều góc độ, cấp độ khác nhau. Sau đây chúng ta sẽ bàn đến cụ thể hơn các công trình nghiên cứu tiêu biểu liên quan đến phụ nữ nông thôn với chăm sóc sức khoẻ sinh sản.
Công trình nghiên cứu “Những điểm mở và thách thức cơ bản với phương thức làm chương trình dựa trên cơ sở quyền con người cho phụ nữ và trẻ em ở Việt Nam” của Christian Salazar Volkmann (2004) đề cập đến vấn đề quyền của phụ nữ. Qua nghiên cứu này, tác giả đã làm rõ những cơ hội và thách thức cơ bản liên quan đến chương trình đảm bảo quyền và sự tham gia của phụ nữ Việt Nam trên cơ sở tiếp cận từ quyền con người. Tác giả công trình nghiên cứu cũng nhấn mạnh rằng 4 thực hiện đầy đủ quyền đối với phụ nữ mang lại động lực cần thiết để họ tham gia có hiệu quả vào các hoạt động xã hội [8]. Nghiên cứu của Hoàng Bá Thịnh: “Vai trò của phụ nữ nông thôn trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn”, nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Qua nghiên cứu này tác giả nhấn mạnh vai trò của phụ nữ nông thôn trong sản xuất nông nghiệp và các yếu tố ảnh hưởng đến sức khoẻ thể chất và tinh thần của phụ nữ nông thôn. Trong đó tác giả đã phân tích những đóng góp quan trọng của phụ nữ nông thôn đối với sự phát triển nông nghiệp, nông thôn. Qua đó kiến nghị một số giải pháp chủ yếu về phát triển chuyên môn - kỹ thuật và nâng cao sức khỏe cho phụ nữ nông thôn [36]. Trung tâm Nghiên cứu gia đình và phụ nữ (1998-2000) “Điều tra cơ bản về gia đình Việt Nam và vai trò của người phụ nữ trong gia đình thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa”.
Đề tài này chỉ ra sự biến đổi các mối quan hệ cơ bản trong gia đình như quan hệ cha mẹ, vợ chồng, con cái. Qua đó phân tích, làm rõ quan hệ bình đẳng giới trong gia đình cũng có sự chuyển biến theo một cách rõ rệt. Nếu trước đây người mang lại thu nhập chính cho gia đình đồng thời cũng là người có uy quyền tối cao khi đưa ra các quyết định lớn trong gia đình là người đàn ông trong gia đình, thì ngày nay vị thế của người phụ nữ được khẳng định hơn đối với các vấn đề này [43]. Bài viết “Ứng xử của gia đình nông thôn trong phòng và chữa bệnh” trong cuốn “Những nghiên cứu chọn lọc về Xã hội học nông thôn (2004), tác giả Trịnh Hòa Bình đã nêu khá rõ tình hình chăm sóc sức khỏe của các gia đình nông thôn: Cách xử lý và lựa chọn loại hình dịch vụ y tế của gia đình nông thôn trong những lúc ốm đau không chỉ phản ánh khả năng thực tế của gia đình trong việc chăm sóc sức khỏe mà còn thể hiện trình độ văn hóa y tế.
Trong điều kiện văn hóa y tế thấp thì nhu cầu chăm sóc sức khỏe của gia đình cũng thấp và cách ứng xử của họ cũng rất đơn giản. Ngược lại, nếu văn hóa y tế cao thì nhu cầu được chăm sóc sức khỏe của họ cũng cao và cách thức lựa chọn hình thức y tế của họ cũng hợp lý và hiệu quả hơn [4]. 5 Nghiên cứu của Trần Thị Vân Anh và Lê Ngọc Hùng, (2000) với tên gọi “Phụ nữ, giới và phát triển” cho rằng phụ nữ là người chịu thiệt thòi nhất trên mọi lĩnh vực ngay cả việc chăm sóc sức khoẻ sinh sản. Phụ nữ hiếm khi trao đổi với chồng về các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục.
Trên thực tế họ dành sự chăm sóc cho chồng và cho con, còn bản thân họ thì ít nhận được sự chăm sóc của người khác, mặc dù trong thời gian sau sinh cũng đã nhận được sự chăm sóc nhưng cách chăm sóc còn mang đậm nét tập quán, truyền thống.