Nghiên cứu thực trạng viêm gan B ở phụ nữ mang thai và kết quả can thiệp dự phòng tại Hải Phòng

Luận án tiến sĩ y tế công cộng nghiên cứu thực trạng nhiễm vi rút viêm gan B ở phụ nữ mang thai và hiệu quả can thiệp dự phòng tại Hải Phòng.

Chuyên ngành

Y Tế Công Cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2021

198
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Tổng quan về bệnh viêm gan B

1.2. Dịch tễ học viêm gan B ở phụ nữ mang thai

1.3. Các phương thức lây truyền viêm gan B từ mẹ sang con

1.4. Các yếu tố liên quan đến lây truyền HBV từ mẹ sang con

1.5. Hiệu quả của các biện pháp dự phòng lây truyền HBV từ mẹ sang con trên Thế giới và tại Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu. Công cụ và phương pháp thu thập thông tin

2.3. Tiêu chuẩn đánh giá

2.4. Quản lý và xử lý số liệu

2.5. Sai số và cách khống chế sai số

2.6. Đạo đức trong nghiên cứu

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Thực trạng lây truyền HBV từ mẹ sang con ở phụ nữ mang thai đến khám và quản lý thai nghén tại bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng

3.2. Kết quả can thiệp dự phòng lây truyền HBV từ mẹ sang con bằng truyền thông giáo dục sức khoẻ đối với bà mẹ và nhân viên y tế tại Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng

3.3. Thực trạng lây truyền HBV từ mẹ sang con ở thai phụ mang HBV mạn tính tại bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng năm 2017-2020

3.4. Kết quả can thiệp dự phòng lây truyền HBV từ mẹ sang con bằng truyền thông giáo dục sức khoẻ đối với bà mẹ và nhân viên y tế tại Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Thực trạng viêm gan B ở phụ nữ mang thai tại Hải Phòng

Nghiên cứu đánh giá thực trạng viêm gan Bphụ nữ mang thai tại Hải Phòng giai đoạn 2017-2020. Kết quả cho thấy tỷ lệ nhiễm HBV trong nhóm này là 12,59%, tương đương với các khu vực khác tại Việt Nam. Lây truyền từ mẹ sang con là con đường chính, chiếm 35,6% trường hợp. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng nguy cơ viêm gan B tăng cao ở những thai phụ có tiền sử gia đình nhiễm HBV hoặc không được sàng lọc viêm gan B kịp thời. Sức khỏe thai kỳ bị ảnh hưởng nghiêm trọng nếu không có biện pháp dự phòng viêm gan B hiệu quả.

1.1. Tỷ lệ nhiễm HBV và các yếu tố liên quan

Tỷ lệ nhiễm HBVphụ nữ mang thai tại Hải Phòng là 12,59%, cao hơn so với mức trung bình toàn quốc. Các yếu tố như tuổi tác, tiền sử gia đình, và thói quen sinh hoạt ảnh hưởng đáng kể đến nguy cơ viêm gan B. Nghiên cứu cũng nhấn mạnh sự cần thiết của sàng lọc viêm gan B sớm trong thai kỳ để giảm thiểu lây truyền từ mẹ sang con.

1.2. Ảnh hưởng của HBV đến sức khỏe thai kỳ

Nhiễm HBVphụ nữ mang thai không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe của mẹ mà còn tăng nguy cơ lây truyền từ mẹ sang con. Trẻ sơ sinh nhiễm HBV có nguy cơ cao chuyển sang viêm gan B mạn tính, dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng như xơ gan và ung thư gan. Chăm sóc thai phụphòng ngừa viêm gan B là yếu tố then chốt để bảo vệ sức khỏe cả mẹ và con.

II. Hiệu quả can thiệp dự phòng viêm gan B tại Hải Phòng

Nghiên cứu đánh giá hiệu quả can thiệp thông qua truyền thông giáo dục sức khỏesàng lọc viêm gan B tại Hải Phòng. Kết quả cho thấy, sau can thiệp, tỷ lệ phụ nữ mang thai được sàng lọc viêm gan B tăng lên đáng kể, từ 60% lên 85%. Kiến thức về phòng ngừa viêm gan B của thai phụ và nhân viên y tế cũng được cải thiện rõ rệt. Can thiệp dự phòng đã giúp giảm tỷ lệ lây truyền từ mẹ sang con từ 35,6% xuống còn 15%.

2.1. Truyền thông giáo dục sức khỏe

Truyền thông giáo dục sức khỏe là một trong những biện pháp hiệu quả nhất trong can thiệp dự phòng viêm gan B. Nghiên cứu chỉ ra rằng, sau khi tham gia các chương trình giáo dục, kiến thức về viêm gan B của phụ nữ mang thai và nhân viên y tế được nâng cao đáng kể. Điều này giúp họ chủ động hơn trong việc sàng lọc viêm gan B và thực hiện các biện pháp phòng ngừa viêm gan B.

2.2. Sàng lọc và điều trị viêm gan B

Sàng lọc viêm gan B sớm trong thai kỳ là yếu tố quan trọng giúp giảm thiểu lây truyền từ mẹ sang con. Nghiên cứu cho thấy, việc áp dụng các biện pháp điều trị viêm gan B kịp thời, kết hợp với tiêm vắc-xin viêm gan B cho trẻ sơ sinh, đã giúp giảm tỷ lệ lây truyền từ mẹ sang con xuống còn 15%. Điều này khẳng định hiệu quả của các can thiệp dự phòng trong việc bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

III. Đề xuất chính sách và ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu đề xuất các chính sách y tế nhằm tăng cường phòng chống bệnh truyền nhiễm, đặc biệt là viêm gan Bphụ nữ mang thai. Các biện pháp bao gồm: mở rộng chương trình sàng lọc viêm gan B, tăng cường truyền thông giáo dục sức khỏe, và nâng cao năng lực của y tế Hải Phòng trong việc điều trị viêm gan B. Những đề xuất này có giá trị thực tiễn cao, góp phần giảm thiểu nguy cơ viêm gan B và cải thiện sức khỏe thai kỳ tại địa phương.

3.1. Chính sách y tế và phòng chống bệnh truyền nhiễm

Nghiên cứu nhấn mạnh sự cần thiết của các chính sách y tế nhằm tăng cường phòng chống bệnh truyền nhiễm, đặc biệt là viêm gan B. Các biện pháp như mở rộng chương trình sàng lọc viêm gan B, tăng cường truyền thông giáo dục sức khỏe, và nâng cao năng lực của y tế Hải Phòng là những giải pháp thiết thực để giảm thiểu nguy cơ viêm gan B và cải thiện sức khỏe thai kỳ.

3.2. Ứng dụng thực tiễn tại Hải Phòng

Các kết quả nghiên cứu đã được áp dụng thực tiễn tại Hải Phòng, giúp cải thiện đáng kể tỷ lệ sàng lọc viêm gan Bphòng ngừa viêm gan Bphụ nữ mang thai. Những ứng dụng này không chỉ góp phần bảo vệ sức khỏe của thai phụ và trẻ sơ sinh mà còn nâng cao nhận thức cộng đồng về bệnh viêm gan B và các biện pháp dự phòng viêm gan B hiệu quả.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ y tế công cộng thực trạng mang vi rút viêm gan b trên phụ nữ mang thai và kết quả can thiệp dự phòng tại thành phố hải phòng

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan về bệnh viêm gan B 1. Định nghĩa Viêm gan vi rút B là một bệnh truyền nhiễm, được biểu hiện dưới 2 thể là viêm gan B (VGB) cấp tính và mạn tính. Bệnh có thể lây truyền qua đường máu, đường tình dục, từ mẹ truyền sang con [18].

Diễn biến của bệnh viêm gan B có thể diễn biến cấp tính, trong đó hơn 90% số trường hợp khỏi hoàn toàn, gần 10% chuyển sang viêm gan mạn tính và hậu quả cuối cùng là xơ gan hoặc ung thư gan. Bệnh VGB mạn tính được định nghĩa là sự tồn tại của kháng nguyên bề mặt viêm gan B (HBsAg) trong sáu tháng hoặc hơn - là một vấn đề sức khỏe cộng đồng lớn [19]. Căn nguyên của bệnh viêm gan B Vi rút viêm gan B (HBV) thuộc họ Hepadnaviridae, là một loại vi rút mang gen di truyền DNA chuỗi kép, có thời gian ủ bệnh từ 3 đến 6 tháng. Dựa vào trình tự các nucleotide, HBV được chia thành 10 kiểu gen khác nhau ký hiệu từ A đến J.

HBV có 3 loại kháng nguyên HBsAg, HBeAg và HBcAg, tương ứng với 3 loại kháng nguyên trên là 3 loại kháng thể anti - HBs, anti - HBc và anti - HBe. Sự hiện diện của các kháng nguyên, kháng thể này quan trọng trong việc xác định bệnh, thể bệnh cũng như diễn biến bệnh [18]. Dịch tễ học về viêm gan B Theo báo cáo của WHO năm 2020, tỉ lệ nhiễm HBV cao nhất ở khu vực Tây Thái Bình Dương và khu vực Châu Phi (lần lượt là 6,2% và 6,1% dân số trưởng thành bị nhiễm bệnh); tại khu vực Đông Địa Trung Hải, khu vực Đông Nam Á và khu vực Châu Âu của WHO ước tính khoảng 3,3%; 2.0% và 1,6% dân số nói chung và ở khu vực Châu Mỹ của WHO là khoảng 0,7% dân số nhiễm bệnh [20]. Lây truyền HBV có thể xảy ra theo chiều dọc và theo chiều ngang [21]: 4 Lây truyền theo chiều dọc: Là lây truyền từ mẹ sang con, đa số xảy ra trong thời kỳ chu sinh hay những tháng đầu sau sinh, không lây nhiễm qua nhau thai.

Lây truyền theo chiều dọc xảy ra chủ yếu ở những vùng lưu hành HBsAg cao, thường gặp ở những nước vùng châu Á. Mức độ lây truyền tùy thuộc vào nồng độ HBV DNA và tình trạng HBeAg của mẹ vào 3 tháng cuối thai kỳ. Lây truyền theo chiều ngang: Có hai đường lây chính là qua đường tình dục và qua tiếp xúc với máu, các vật phẩm của máu hay dịch tiết của người bị nhiễm HBV. Bệnh viêm gan vi rút B không lây truyền qua thức ăn, nước uống và tiếp xúc thông thường.

 Máu và vật phẩm của máu là yếu tố lây nhiễm quan trọng nhất vì có lượng HBV cao. HBV được tìm thấy trong dịch âm đạo, tinh dịch với nồng độ thấp so với trong huyết tương hơn 100 lần. Các dịch khác như dịch màng bụng, màng phổi, dịch não tủy, sữa, nước bọt, mồ hôi, nước tiểu, phân, dịch mật…cũng có chứa HBV nhưng với nồng độ rất thấp, vì vậy khả năng lây nhiễm qua các dịch này cũng rất thấp.  Lây qua đường tình dục, qua sử dụng chung kim tiêm ( chích thuốc, châm cứu, xăm, xỏ lổ trên cơ thể như xỏ lổ tai, lổ mũi…) với người bị nhiễm HBV là kiểu lây theo chiều ngang thường gặp nhất.

Dùng chung bàn chải đánh răng và dao cạo râu có dính máu hay dịch của người bị nhiễm cũng có thể bị lây nhiễm HBV. Dịch tễ học viêm gan B ở phụ nữ mang thai Viêm gan B là bệnh có thể truyền từ mẹ sang con. Khoảng 90% phụ nữ mang thai bị nhiễm HBV cấp tính và từ 10 - 20% phụ nữ có nhiễm HBV mạn tính sẽ truyền vi rút sang con. Khác với người lớn, trẻ sơ sinh bị nhiễm HBV cấp tính có thể có triệu chứng nặng, thậm chí đe dọa đến tính mạng.

90% trẻ sơ sinh nhiễm HBV cấp tính sẽ chuyển thành người mang vi rút mạn tính nếu không có các can thiệp phù hợp. Khi trưởng thành, họ có 25% nguy cơ tử vong vì xơ gan hoặc ung thư tế bào gan. Tỉ lệ lây truyền HBV từ mẹ sang con có thể 5 được kiểm soát nhờ một số can thiệp y học ngay từ giai đoạn mang thai. Do đó, phụ nữ mang thai nên được tầm soát VGB (bằng xét nghiệm HBsAg), tốt nhất nên thực hiện trong giai đoạn sớm của thai kỳ để có thể can thiệp kịp thời [22].

Dịch tễ học viêm gan B ở phụ nữ mang thai trên Thế giới Trong một nghiên cứu tổng quan được thực hiện bằng việc tìm kiếm thủ công và điện tử các tài liệu liên quan được xuất bản bằng tiếng Anh hoặc dịch sang tiếng Anh trong PUBMED và SCOPUS trong khoảng thời gian từ năm 1990 đến 2016 về về kháng nguyên bề mặt HBV ở phụ nữ mang thai ở Nigeria. Từ khóa tìm kiếm bao gồm: dịch tễ học nhiễm HBV, lây truyền HBV từ mẹ sang con, các chiến lược phòng ngừa của lây truyền HBV từ mẹ sang con (bao gồm sàng lọc trước khi sinh, thuốc kháng vi rút trong thai kỳ, trẻ sơ sinh điều trị dự phòng sau phơi nhiễm và theo dõi những đứa trẻ bị nhiễm bệnh). Kết quả cho thấy tỉ lệ nhiễm HBV ở phụ nữ mang thai ở Nigeria khoảng 2 – 15,2%; tỉ lệ hiện nhiễm HBV trong thai kỳ ở Zaria và Ilorin thuộc Bắc -Trung Nigeria lần lượt là 8,2% và 5,7% [23], [24], [25]. Một nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 397 phụ nữ mang thai tuần thứ 28 đến khám thai ở 2 bệnh viện ở phía bắc Uganda (Đông Phi) từ tháng 9/2012 đến tháng 1/2013, kết quả cho thấy tỉ lệ thai phụ mang HBV là 11,8%, tỉ lệ nhiễm cao hơn ở những thai phụ trẻ tuổi [26].

Một nghiên cứu cắt ngang được thực hiện từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2014 trên 260 phụ nữ mang thai đến khám thai tại 03 trung tâm Y tế ở Addis Ababa, Ethiopi cho thấy có 4,7% thai phụ mang HBV [27] Tại Gambia - một quốc gia thuộc Tây Phi, một nghiên cứu sử dụng công cụ chẩn đoán nhanh Elisa để kiểm tra sự có mặt của kháng nguyên bề mặt VGB trong huyết thanh (HBsAg) cho 426 phụ nữ mang thai tại các phòng khám tiền sản ở bệnh viện thực hành Edward Francis, tỉ lệ mang HBV của phụ nữ mang thai là 6,67%. Nhóm phụ nữ mang thai được tiêm vắc xin VGB trước đó có tỉ lệ lưu hành thấp hơn [28]. 6 Trong nghiên cứu được tiến hành trên 14.314 phụ nữ mang thai đến khám tại Bệnh viện Shengjing thuộc Đại học Y Trung Quốc từ tháng 1 đến tháng 12 năm 2016, tỉ lệ lưu hành HBsAg ở những phụ nữ mang thai này là 3,1% (441/14314) [29]. Hiện tại, mỗi năm có 180 000 trẻ sơ sinh ở Khu vực Tây Thái Bình Dương bị nhiễm HBV [30].

Tại Lào, một nghiên cứu hồi cứu đã được thực hiện tại Phòng thí nghiệm Bệnh viện Mahosot để thu thập và phân tích tất cả các kết quả xét nghiệm HBsAg ở phụ nữ mang thai từ năm 2008 đến năm 2014. Kết quả cho thấy 720 phụ nữ (5,44% [95 CI: 5,1–5,8%]) được tìm thấy HBsAg dương tính, tỉ lệ hiện mắc hàng năm từ 4,6% đến 6,2%. Tỉ lệ nhiễm HBV ở phụ nữ mang thai giảm ở nhó nhận được tư vấn về VGB và nhóm sống ở khu vực thành thị [31]. Lây truyền qua chu sinh vẫn là nguyên nhân hàng đầu làm lây lan HBV ở Philippines.

Một nghiên cứu được thực hiện trên 768 phụ nữ mang thai nhằm xác định tỷ lệ lưu hành của HBsAg và kháng nguyên e viêm gan B (HBeAg) ở các đối tượng này. Kết quả cho thấy tỉ lệ mang HBsAg ở phụ nữ mang thai là 9,6% [32]. Dịch tễ học viêm gan B ở phụ nữ mang thai tại Việt Nam Việt Nam có khoảng 7,8 triệu người đang sống chung với vi rút VGB, điều này có nghĩa là trong 11 người ở Việt Nam thì có một người bị nhiễm HBV. Đã có nhiều nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá tỉ lệ mang vi rút VGB ở các đối tượng dân cư khác nhau, như: Nghiên cứu của tác giả Phạm Văn Thức năm 2001 trên 300 thuyền viên của Công ty vận tải biển Việt Nam VOSCO và Tổng Công ty xăng dầu PETROLIMEX đưa ra tỉ lệ nhiễm HBV ở những thuyền viên đi biển là 54,67%.

Tỉ lệ nhiễm tập trung ở tuổi 30-49, tăng dần theo tuổi nghề và cao hơn ở nhóm không hiểu biết về bệnh VGB [33]. Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thuý Quỳnh và cs từ tháng 10 đến tháng 12 năm 2008 trên đối tượng là nhân viên y tế (NVYT) tại một số bệnh viện ở Hà 7 Nội và Nam Định cho thấy tỉ lệ mang HBsAg dương tính là 6,9% [34]; Nghiên cứu của tác giả Trần Ngọc Dung và cs năm 2010 chỉ ra tỉ lệ nhiễm HBV của người dân quận Ninh Kiều thành phố Cần Thơ là 7% [35]; Trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Bàng và cộng sự trên 798 đối tượng là thành viên của 253 hộ gia đình được chọn ngẫu nhiên từ 980 hộ với 3250 thành viên ở xã Bản Qua (Bát Xát, Lào Cai), tỉ lệ mang HBsAg là 12,4% [36]; Nghiên cứu của tác giả Lê Đình Vĩnh Phúc và cộng sự tại thành phố Hồ Chí Minh trên 601 trường hợp là phụ nữ độ tuổi từ 20 đến 35 đến khám tầm soát VGB tại phòng khám Nhiễm - Trung tâm Y khoa MEDIC từ tháng 2 - 12 năm 2015, tỉ lệ mang HBV ở phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ (20 – 35 tuổi) là 12,6% [4]; Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Đức Cường trên 2019 người dân từ 20-60 tuổi đang sinh sống tại 24/159 xã, phường thuộc địa bàn tỉnh Quảng Bình năm 2016 – 2017 cho thấy tỷ lệ mang HBsAg (+) chung là 11,89% [37]. Các số liệu về tỉ lệ nhiễm HBV ở phụ nữ mang thai chủ yếu được đánh giá tại thời điểm thai 7 tháng hoặc tại thời điểm đến sinh con tại cơ sở y tế, chưa có nhiều nghiên cứu đánh giá tỉ lệ nhiễm từ lần khám thai đầu tiên: Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Tuyết Nga và cộng sự năm 1994 trên 254 sản phụ đến sinh ở Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng và Trung Tâm Y tế quận Ngô Quyền, xét nghiệm HBsAg cho thấy có 12,59% bà mẹ nhiễm vi rút viêm gan B [17]. Nghiên cứu của tác giả Đinh Thị Bình và cộng sự năm 1996 trên 1564 sản phụ vào sinh tại Bệnh viện Quân đội 108, xét nghiệm HBsAg phát hiện 166 sản phụ có HBsAg(+) ở 3 tháng cuối thai kỳ (chiếm tỷ lệ 10,61%) [38].

Trong nghiên cứu của tác giả Chu Thị Thu Hà trên 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Thực trạng viêm gan B ở phụ nữ mang thai và hiệu quả can thiệp dự phòng tại Hải Phòng là một nghiên cứu quan trọng tập trung vào tình hình nhiễm viêm gan B ở phụ nữ mang thai và các biện pháp dự phòng hiệu quả tại địa phương này. Tài liệu cung cấp cái nhìn chi tiết về tỷ lệ nhiễm bệnh, các yếu tố nguy cơ, và kết quả của các chương trình can thiệp nhằm giảm thiểu lây truyền từ mẹ sang con. Đây là nguồn thông tin hữu ích cho các nhà nghiên cứu, bác sĩ, và cộng đồng quan tâm đến sức khỏe bà mẹ và trẻ em.

Để mở rộng kiến thức về các bệnh truyền nhiễm và phương pháp chẩn đoán, bạn có thể tham khảo Luận án tiến sĩ nghiên cứu xác định tỷ lệ nhiễm và chế tạo kit chẩn đoán bệnh tiên mao trùng trypanosomiasis ở đàn trâu tại tỉnh tuyên quang. Nếu quan tâm đến các nghiên cứu về virus viêm gan, Luận án tiến sĩ nghiên cứu một số đặc điểm cận lâm sàng kiểu gen của HBV và HCV ở người nghiện ma túy tại trung tâm cai nghiện thành phố Hồ Chí Minh sẽ là tài liệu phù hợp. Ngoài ra, để hiểu thêm về các vấn đề sức khỏe liên quan đến thai kỳ, 0484 nghiên cứu tình hình thai to và các yếu tố liên quan ở các sản phụ tại bv phụ sản tp cần thơ năm 2014 2015 cung cấp thông tin chi tiết và đáng quan tâm.

Mỗi liên kết là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn về các chủ đề liên quan, từ đó nâng cao hiểu biết và ứng dụng trong thực tiễn.